Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày: 21/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tô Đông Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

1/Bà Nguyễn Lê Thu

2/Bà Vũ Thị Châu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh Xuân – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ngon - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại Phòng xử A trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/204/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/204/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Tống Hữu V; sinh năm tại Thành phố H đăng ký thường trú: 32/53/33 H, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Namtôn giáo: Khôngquốc tịch: Việt Namcon ông Tống Hữu X và bà Đỗ Thị Anh Đ; tiền án: Ngày 02/11/2018, bị Tòa án nhân dân Quận 11 xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (theo Bản án số 83/2018/HS-ST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2022, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/11/2023; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Bà Trương Thị Trúc H; sinh năm 2005; địa chỉ: A- 03 khu dân cư B, đường B, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/Ông Vũ Quốc T, sinh năm: 1987, địa chỉ: 4 N, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

2/Ông Hoàng Phương V1, sinh năm: 1979, địa chỉ: 2 C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 24/11/2023, Tống Hữu V điều khiển xe Nouvo biển số 50N1-227.16 đi qua nhiều tuyến đường để tìm kiếm người có tài sản sơ hở sẽ cướp giật, bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 11 giờ 32 phút cùng ngày, V điều khiển xe ngang qua nhà số E L, Phường E, Quận A, thấy chị Trương Thị Trúc H đang ngồi trên xe sử dụng điện thoại. Lúc này, V điều khiển xe vòng lại chạy ngược chiều, áp sát bên trái chị H rồi dùng tay trái giật lấy điện thoại Iphone 11 màu trắng, V tăng ga tẩu thoát. Sau đó, V liên lạc Trần Hoàng M nói có điện thoại để lâu bị lỗi chương trình nên nhờ M tìm người chạy lại chương trình để sử dụng, M đồng ý. Sau đó, M liên hệ với bạn là Vũ Quốc T (làm nghề sửa, mua bán điện thoại) nhờ T chạy lại chương trình điện thoại, T đồng ý; M kêu V đem điện thoại qua số C B, Phường F, quận T đưa cho T để chạy lại chương trình. Sáng ngày 25/11/2023, T báo cho M biết là điện thoại không chạy lại chương trình được, M cho V biết; do điện thoại không chạy lại chương trình được, nên V đã bán điện thoại Iphone 11 cho T với giá 2.000.000 đồng, V tiêu xài cá nhân hết 800.000 đồng, còn 1.200.000 đồng. Sau khi biết điện thoại do V bán là tài sản phạm tội mà có, T tự nguyện giao nộp Cơ quan điều tra.

Sau khi bị cướp giật chiếc điện thoại, chị Trương Thị Trúc H đến Công an P, Quận A trình báo vụ việc.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 19/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận A, kết luận: giá trị điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu trắng là 6.500.000 đồng.

Ngày 26/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối Tống Hữu V về hành vi “Cướp giật tài sản” để điều tra.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Tống Hữu V thừa nhận hành vi phạm tội như nêu trên. Về nguồn gốc xe Nouvo 50N1-277.16, V khai nhận biển số đúng của xe N là 52P5-5110, xe này V mượn của bạn là Trần Hoàng M vào ngày 16/11/2023 để sử dụng (xe này M mượn của anh Vũ Minh T1, V là người trực tiếp nhận xe từ anh T1). Ngày 24/11/2023, V gắn biển số xe 50N1-277.16 (V khai nhận biển số xe này do V mua lại của của người bán ve chai không rõ lai lịch) vào xe trên để đi cướp giật tài sản thì M, T1 không biết; còn biển số 52P5-5110, mũ bảo hiểm màu cam sau cướp giật được tài sản, ngày 25/11/2023, V để trong túi nylon màu đen rồi đem đến gửi tại nhà của Hồ Nguyên L (Cơ quan điều tra đã thu giữ), L không biết V thực hiện hành vi cướp giật tài sản vào ngày 24/11/2023. Lời khai nhận của V phù hợp với lời khai của M, T1, L và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý:

- 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng do Vũ Quốc T giao nộp, là tài sản do Tống Hữu V cướp giật của chị Trương Thị Trúc H. Ngày 01/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại cho chị H.

- 01 biển số 50N1-227.16, qua xác minh biển xe trên được cấp cho xe SH Mode do anh Nguyễn Đức Quang M1 đứng tên đăng ký xe và xe này bị mất trộm vào ngày 22/9/2023 tại trước nhà số F đường C tháng B, Phường A, Quận A. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã chuyển biển số nêu trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 giải quyết.

Vật chứng bị tạm giữ:

- 01 mũ bảo hiểm màu cam, 01 áo thun màu đen, 01 quần jean màu xanh là trang phục V mặc khi thực hiện hành cướp giật tài sản; 01 điện thoại di động Nokia màu đen là tài sản cá nhân của V;

- 1.200.000 đồng là tiền do V bán điện thoại cướp giật có được;

- 01 xe Nouvo có số khung: RLCN2B5205Y027521, số máy: 2B5227521, biển số 52P5-5110. Qua điều tra xác định xe trên do anh Hoàng Phương V1 đứng tên đăng ký xe, anh V1 cho em rể là Vũ Minh T1 để sử dụng từ năm 2005. T1 khai nhận ngày 16/11/2023, cho bạn là Trần Hoàng M mượn sử dụng, sau đó, M nhờ Tống Hữu V đến nhà T1 lấy xe. Thời điểm cho mượn xe, T1, M không biết Tống Hữu V sử dụng xe Nouvo đi cướp giật tài sản.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Trương Thị Trúc H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì khác. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Vũ Quốc T, Vũ Minh T1 không có yêu cầu gì khác.

Tại bản cáo trạng số 78/CT-VKSQ11 ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Tống Hữu V về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d,i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Bị cáo có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, giữ quan điểm như truy tố, nêu các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Tống Hữu V mức án từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm tù; đồng thời đề nghị hướng xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ:

+Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu cam, 01 áo thun màu đen, 01 quần jean màu xanh là trang phục V mặc khi thực hiện hành cướp giật tài sản;

+Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 1.200.000 đồng là tiền do V bán điện thoại cướp giật có được.

+Trả lại cho Tống Hữu V 01 điện thoại di động Nokia màu đen là tài sản cá nhân của V.

+Trả lại cho ông Hoàng Phương V1 01 xe Nouvo có số khung: RLCN2B5205Y027521, số máy: 2B5227521, biển số 52P5-5110.

+ Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa nội dung ghi âm, ghi hình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Tống Hữu V đã khai nhận hành vi “Cướp giật tài sản” như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an Q, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, biên bản thực nghiệm điều tra và tang vật thu giữ phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng của Bộ luật hình sự quy định, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của bị cáo Tống Hữu V đã phạm tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ, gây mất trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Giữa nơi công cộng, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội rất táo bạo và liều lĩnh bất chấp hậu quả xảy ra và bất chấp cả sự trừng trị của pháp luật.

Do đó, phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt hơn, sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác. Đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Tống Hữu V có hành vi “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp “dùng thủ đoạn nguy hiểm”, bị cáo có 01 tiền án rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo theo tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm d,i khoản 2, Điều 171 của Bộ luật hình sự là có cơ sở và đúng quy định pháp luật. Do đó, cần phải có bản án thật nghiêm đối với bị cáo.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo tài sản bị chiếm đoạt đã được trả lại cho người bị hại, tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn phạt bổ sung.

Đối với Trần Hoàng M được Tống Hữu V nhờ tìm nơi chạy lại chương trình điện thoại, Vũ Quốc T là người mua điện thoại của V không biết tài sản do phạm tội mà có là do V nói điện thoại để lâu nên bị lỗi chương trình, nên Cơ quan điều tra không xử lý M, T về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Đối với Vũ Minh T1, Trần Hoàng M khi cho V mượn xe môtô biển số 52P5-5110 không biết V sử dụng xe đi cướp giật tài sản vào ngày 24/11/2023; Hồ Nguyên L khi nhận giữ biển số xe 52P5-5110, mũ bảo hiểm màu cam, không biết V thực hiện hành vi cướp giật tài sản vào ngày 24/11/2023. Cơ quan điều tra không xử lý T1, M, L là có căn cứ.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng căn cứ vào hồ sơ vụ án xét thấy Người bị hại chị Trương Thị Trúc H đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì khác. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Quốc T không yêu cầu V bồi thường số tiền 2.000.000 đồng và không có yêu cầu hay thắc mắc khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử xét thấy không có gì giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 mũ bảo hiểm màu cam, 01 áo thun màu đen, 01 quần jean màu xanh là trang phục V mặc khi thực hiện hành cướp giật tài sản không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động N1 màu đen là tài sản cá nhân của V không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Tống Hữu V.

- Đối với số tiền 1.200.000 đồng tiền Ngân hàng N2 là số tiền V có được do phạm tội mà có nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 xe Nouvo có số khung: RLCN2B5205Y027521, số máy: 2B5227521, biển số 52P5-5110 qua xác minh là của ông Hoàng Phương V1, ông V1 không biết V sử dụng xe làm phương tiện cướp giật tài sản nên trả lại cho ông V1.

- Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa nội dung ghi âm, ghi hình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Tống Hữu V phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ vào Điều 50; điểm d,i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt:

T2 (năm) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 26/11/2023

Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

+ Tịch thu tiêu 01 mũ bảo hiểm màu cam, 01 áo thun màu đen, 01 quần jean màu xanh nhạt.

+ Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng N2.

+ Trả lại cho Tống Hữu V 01 điện thoại di động Nokia màu đen.

+ Trả lại cho ông Hoàng Phương V1 01 xe Nouvo có số khung: RLCN2B5205Y027521, số máy: 2B5227521, biển số 52P5-5110.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 2310/LNK-ĐCSHS ngày 01/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).

- Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa nội dung ghi âm, ghi hình.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận:

  • - TAND - VKSND TPHCM;
  • - Sở Tư pháp TPHCM;
  • - PV06 - CA TPHCM;
  • - VKSND Q.11;
  • - Công an Q.11;
  • - Chi cục THADS Q.11;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Tô Đông Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt: Tống Hữu Vinh 05 (năm) năm tù.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger