|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2024/HS-ST Ngày: 12-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Minh và ông Phan Văn Thiện
Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Đăng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Đặng Phước Dư - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã T, thành phố S xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 03/HSST-TB ngày 03 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Thị Ngọc Đ (tên gọi khác: T), sinh ngày 10 tháng 10 năm 1990, tại tỉnh Vĩnh Long; Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp B, xã T, huyện T, tỉnh V; Nơi ở hiện tại: Nhà nghỉ M, số A, ấp L, xã H, huyện L, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn P và con bà Nguyễn Thị H; A, chị, em: 01 người, sinh năm 1992, bị cáo là con lớn trong gia đình; Chồng: Nguyễn Trung N, sinh năm 1992; Con: 02 người, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không có; Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).
Bị hại: Chị Võ Thị Tố N1, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Số A Lô A, KDC ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đ. (có mặt)
Người làm chứng:
- - Chị Võ Thị Bảo Y, sinh năm 2005. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Đ. (vắng mặt)
- - Chị Hồ Thị Tuyết T, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đ. (vắng mặt)
- - Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đ. (vắng mặt)
- - Chị Biện Thị T1, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Đ. (vắng mặt)
- - Anh Võ Văn H1, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Số I, ấp Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Đ. (có mặt)
- - Bà Phạm Thị B, sinh năm 1961. Nơi cư trú: 374/5, ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đ. (vắng mặt)
- - Chị Trần Thị L, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Số A Lô Đ, ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đ. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 30/4/2024, chị Võ Thị Tố N1 đi đến quán C thuộc ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ để gặp Phạm Thị Ngọc Đ nói chuyện về số tiền 77.000.000 đồng mà Điều đã nhờ chị N1 bảo lãnh vay chưa trả. Trong lúc nói chuyện giữa 02 người xảy ra mâu thuẫn dẫn đến cự cãi nhau, Phạm Thị Ngọc Đ giật nón bảo hiểm của chị Võ Thị Tố N1 đang đội trên đầu và đánh trúng vào đầu, mặt, ngực của chị Tố N1 gây thương tích.
Ngày 11/6/2024, chị Võ Thị Tố N1 viết đơn yêu cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và yêu cầu xử lý hình sự đối với Phạm Thị Ngọc Đ.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 390/KLTTCT-TTPYĐT, ngày 23/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ đối với Võ Thị Tố N1, kết luận:
- - Chấn thương phần mềm vùng đỉnh đầu, sóng mũi trái, giữa ngực, mặt ngoài cánh tay phải hiện không còn dấu vết thương tích, không cho tỷ lệ phần trăm.
- - Vết biến đổi sắc tố da mi dưới mắt trái. Tỷ lệ tổn thương: 0,5 %.
- - Vết biến đổi sắc tố da môi trên phải. Tỷ lệ tổn thương: 0,5%.
- - Vết biến đổi sắc tố da mặt trước 1/3 trên cánh tay trái. Tỷ lệ tổn thương: 0,5%.
- - Sẹo vết thương phần mềm khoé môi phải kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương: 03%.
Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Thị Tố N1 tại thời điểm giám định là: 04%, áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.
Kết luận khác: Các tổn thương trên do vật tày gây ra.
Tại bản cáo trạng số 71/CT-VKS-TPSÐ ngày 31/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố bị cáo Phạm Thị Ngọc Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thị Ngọc Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Về hình phạt, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị Ngọc Đ mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Ngoài ra, còn đề nghị về trách nhiệm dân sự theo quy định pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận; xin được giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng là đúng quy định pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời trình bày của bị hại, người làm chứng, các kết luận giám định pháp y về thương tích và các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 30/4/2024, tại quán C thuộc ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ, Phạm Thị Ngọc Đ đã có hành vi dùng nón bảo hiểm tấn công gây thương tích cho chị Võ Thị Tố N1 với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 04%.
[3] Bị cáo là người đã thành niên, có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng để nhận thức được nón bảo hiểm là hung khí nguy hiểm vì nó là vật nặng và cứng rắn, nếu dùng để đánh vào cơ thể người khác sẽ gây thương tích thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Bản thân bị cáo là phụ nữ, đã có gia đình chồng con, lẽ ra phải biết kiềm chế, xử lý khéo léo các vấn đề xảy ra trong cuộc sống, nếu bị hại có hành vi quấy phá, cư xử không phải phép thì bị cáo có quyền trình báo cơ quan chức năng để xử lý theo quy định, thế nhưng với bản tính nóng nảy, bị cáo đã chọn cách giải quyết bằng bạo lực, dùng nón bảo hiểm tấn công bị hại gây ra thương tích với tỷ lệ thương tật 04%. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
a) Dùng... hung khí nguy hiểm... ;
[4] Hành vi của bị cáo tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có điều kiện được cải tạo, giáo dục và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại cũng có một phần lỗi nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại Võ Thị Tố N1 yêu cầu bị cáo Phạm Thị Ngọc Đ bồi thường chi phí điều trị thương tích 5.000.000 đồng, bồi thường tiền công lao động bị mất trong thời gian 15 ngày với số tiền 180.000 đồng/ngày là 2.700.000 đồng, yêu cầu bồi thường sợi dây chuyền vàng bị mất với số tiền 1.000.000 đồng, yêu cầu bồi thường nón bảo hiểm với số tiền 250.000 đồng, yêu cầu về tổn thất tinh thần với số tiền 30.000.000 đồng.
- Bị cáo Điều thống nhất bồi thường về tiền công lao động bị mất cho bị hại số tiền 2.700.000 đồng và tiền nón bảo hiểm bị mất là 250.000 đồng nên chấp nhận sự tự thỏa thuận của các bên.
- Đối với yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích 5.000.000 đồng: Xét thấy, bị cáo đồng ý bồi thường chi phí điều trị trên cơ sở hóa đơn chứng từ điều trị mà bị hại cung cấp được. Trong suốt quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị hại không cung cấp được bất kỳ hóa đơn chứng từ nào chứng minh chi phí mà bị hại đã bỏ ra để khám chữa bệnh nên yêu cầu này của bị hại chưa đủ cơ sở để chấp nhận, tuy nhiên bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 1.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo.
- Đối với yêu cầu bồi thường sợi dây chuyền vàng bị mất với số tiền 1.000.000 đồng: Xét thấy bị hại không có căn cứ gì để chứng minh tại thời điểm đánh nhau với bị cáo Đ có mang theo sợi dây chuyền và chính bị cáo Đ là người làm rơi mất, cũng như không có gì để chứng minh giá trị của sợi dây chuyền là 1.000.000 đồng, nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu này của bị hại.
- Đối với yêu cầu về tổn thất tinh thần với số tiền 30.000.000 đồng: Xét thấy bị cáo có hành vi xâm phạm sức khỏe của bị hại nên phải có trách nhiệm bồi thường về tổn thất tinh thần là phù hợp, tuy nhiên giữa bị hại và bị cáo không thỏa thuận được mức bồi thường, trong khi đó số tiền mà bị hại yêu cầu là quá cao so với mức độ xâm phạm của bị cáo đối với bị hại trong vụ án này, với tỷ lệ thương tật 04% mà bị cáo đã gây ra cho bị hại thì mức bồi thường về tổn thất tinh thần bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 02 tháng lương cơ sở, tương đương 4.680.000 đồng theo đề nghị của Viện kiểm sát là hoàn toàn phù hợp.
[8] Về xử lý vật chứng: Không có.
[9] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[10] Về án phí: Bị cáo Phạm Thị Ngọc Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Ngọc Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Ngọc Đ mức án 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam theo Quyết định bắt, tạm giam số 01/2024/HSST-QĐBTG ngày 12/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 590 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Bị cáo Phạm Thị Ngọc Đ bồi thường cho bị hại Võ Thị Tố N1 tiền chi phí điều trị 1.000.000 đồng, tiền công lao động bị mất 2.700.000 đồng, tiền trị giá nón bảo hiểm bị mất là 250.000 đồng, tiền bù đắp về tổn thất tinh thần là 4.680.000 đồng. Tổng cộng 8.630.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự đối với số tiền chưa thi hành án cho đến khi thi hành xong.
- Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Bị cáo Phạm Thị Ngọc Đ nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 431.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Hoàng Minh |
Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 76/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên phạt 6 tháng tù
