Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN TRƯỜNG

TỈNH NAM ĐỊNH


Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày: 25 - 9 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Thung.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Xuân Thuỳ;

Bà Đinh Thị Hồng Thơm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 75/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Mai Ngọc T, sinh năm 1989; nơi cư trú: Xóm C, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Mai Đức N và bà Nguyễn Thị H; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Hoàng Thị P (đã ly hôn) và có 2 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 23/9/2020 bị Toà án nhân dân huyện Xuân Trường ra quyết định áp dụng biện pháp hành chính: “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”, thời hạn 20 tháng, đến ngày 26/11/2022 chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày ngày 18/5/2024 đến ngày 27/5/2024 chuyển tạm giam; “có mặt”.

2. Nguyễn Văn P1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Xóm E, xã X (nay là xã X), huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn P2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 22/9/2021 bị Toà án nhân dân huyện Xuân Trường ra quyết định áp dụng biện pháp hành chính: “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”, thời hạn 22 tháng, đến ngày 07/8/2023 chấp hành xong.

Nhân thân: Ngày 27/12/2017 bị Toà án nhân dân huyện Xuân Trường xử phạt 24 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đến ngày 27/4/2019 chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày ngày 18/5/2024 đến ngày 27/5/2024 chuyển tạm giam; “có mặt”.

- Người chứng kiến: Anh Lê Công Đ, sinh năm 1996; “vắng mặt”;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mai Ngọc TNguyễn Văn P1 là bạn nghiện ma tuý. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 18/5/2024, Thông sử dụng điện thoại của mẹ đẻ gọi điện thoại đến số 0985.340.xxx của Nguyễn Văn P1 rủ đi mua ma tuý để sử dụng, P1 đồng ý. Phiên đi xe đạp điện từ nhà ở xóm E, xã X đến nhà Txóm C, xã X, huyện X đón và chở T đi mua ma tuý. Trên đường đi T đưa cho P1 số tiền 200.000 đồng để mua ma tuý sử dụng chung. Khi TP1 đi đến khu vực chùa Đ1 01, xã X, huyện X thì gặp 01 người đàn ông không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Qua dò hỏi, biết người này có ma túy bán nên P1 mua 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi nhận gói ma tuý, P1 cầm trên tay trái rồi chở T đi tìm địa điểm sử dụng.

Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi Nguyễn Văn P1 đang chở Mai Ngọc T đi trên trục đường dân cư thuộc xóm A, xã X, huyện X thì bị tổ công tác Công an xã X đang làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện Phiên đang tàng trữ 01 gói giấy nhỏ, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Phiên khai nhận là gói H2 do P1T vừa mua mục đích để cùng sử dụng. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, thu giữ và niêm phong vật chứng (ký hiệu là M), thu giữ 01 xe đạp và 01 điện thoại di động, đưa T, P1 về trụ sở UBND xã X, huyện X lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và bàn giao hồ sơ, tài liệu cùng với đối tượng Nguyễn Văn P1, Mai Ngọc T cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X để giải quyết theo thẩm quyền. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn P1, Mai Ngọc T nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Kết quả xét nghiệm định tính Morphin đối với Mai Ngọc T, Nguyễn Văn P1 ngày 18/5/2024 của Trung tâm y tế huyện X xác định: Mai Ngọc T, Nguyễn Văn P1 dương tính với M.

Tại bản kết luận giám định số 972/KL-KTHS ngày 24/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh N: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine, khối lượng mẫu M: 0,258 gam Heroine.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X, Mai Ngọc T, Nguyễn Văn P1 đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để cùng sử dụng của bản thân như đã nêu trên.

Cáo trạng số 71/CT-VKSXT ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố các bị cáo Mai Ngọc T, Nguyễn Văn P1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh và hình phạt chính: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

- Tuyên bố các bị cáo Mai Ngọc T, Nguyễn Văn P1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt các bị cáo Mai Ngọc T và bị cáo Nguyễn Văn P1 từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù;

Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, cho tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của các bị cáo; trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn P1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105.

Các bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 18/5/2024, tại khu vực xóm A, xã X, huyện X, Mai Ngọc TNguyễn Văn P1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,258 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, hành vi của Mai Ngọc TNguyễn Văn P1 đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện, tiếp tay cho tệ nạn mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý, một hiểm họa lớn cho toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản,... làm tan vỡ hạnh phúc bao gia đình. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; là người nghiện ma túy nên các bị cáo đã thấu hiểu được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe và phòng ngừa.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi cũng như theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ thu giữ: Số ma túy đã thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe đạp điện cho mẹ đẻ bị cáo Nguyễn Văn P1; còn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 là tài sản hợp pháp của bị cáo P1 xét thấy cần trả lại cho bị cáo.

[8] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Mai Ngọc TNguyễn Văn P1, quá trình điều tra không xác định được nên không có căn cứ để xử lý.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
    • - Tuyên bố các bị cáo Mai Ngọc TNguyễn Văn P1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
    • - Xử phạt bị cáo Mai Ngọc T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2024.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P1 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2024
  2. Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu, tiêu hủy số ma túy trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 972/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N.
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn P1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105.

    (Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 96/CCTHA ngày 16/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).

  3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc các bị cáo Mai Ngọc T, Nguyễn Văn P1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Công an huyện;
  • - UBND xã Xuân Ninh;
  • - UBDN xã Xuân Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Thung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 18/5/2024, tại khu vực xóm 1, xã X, huyện X, Mai Ngọc T và Nguyễn Văn P đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,258 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger