Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HS - ST

Ngày: 18 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toản;

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thân và bà Đào Thị Thanh Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Thực - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đại Dương - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Nhà Văn hóa T4, phường P, thành phố S, Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 74/ 2024/TLST - HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn D - Sinh ngày 04/3/1999, tại thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: TDP T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Thanh B - Sinh năm: 1974 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Hương T - Sinh năm: 1979; bị cáo chưa có vợ, con. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Tiền sự, tiền án: Không có; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Nguyễn Tất L - Sinh ngày 13/3/1999, tại thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nơi ĐKHKTT: TDP Q, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, nơi ở hiện nay: TDP D, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông: Nguyễn Tất T1 - Sinh năm: 1975 và bà Nguyễn Thị D1 - Sinh năm: 1977; bị cáo chưa có vợ, con. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Tiền sự, tiền án: Không có; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa).

*. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Nguyễn Thị D1 - Sinh năm: 1977 (Là mẹ đẻ bị cáo L);

Nơi cư trú: TDP D, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa).

2. Bà Nguyễn Thị Hương T - Sinh năm: 1979 (Là mẹ đẻ bị cáo D);

Nơi cư trú: TDP T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa).

*. Người chứng kiến:

1. Anh Trần Thanh T2 - Sinh năm 1991;

Nơi cư trú: TDP C, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

2. Anh Hoàng Công K - Sinh năm 1981;

Nơi cư trú: TDP C, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 31/5/2024, Tổ công tác thuộc Đội Điều tra tổng hợp, Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự tại đường Cách mạng tháng T, đoạn qua tổ dân phố C, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên phát hiện Nguyễn Tất Lâm đang điều khiển xe đạp điện màu trắng có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật. Tổ công tác đã yêu cầu dừng xe và tiến hành kiểm tra thì phát hiện tại túi da màu đen L đang đeo trên người có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S22 màu trắng, đã qua sử dụng, bên trong gắn thẻ sim số 0345.633.455; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 02 viên nén màu xám và 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng; 02 túi nilon màu trắng bên trong chứa sợi thực vật khô màu nâu, L khai nhận là ma túy tổng hợp, loại “ke”, “kẹo” và cần sa của L đang mang đi bán, về nguồn gốc số ma túy trên do L mua của Nguyễn Văn D (Sinh năm 1999, trú tại tổ dân phố T, phường Đ, thành phố P). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong số vật chứng trên và chiếc xe đạp điện của L.

Hồi 21 giờ 30 phút ngày 31/5/2024, tổ công tác của Cơ quan điều tra Công an thành phố S tiến hành triệu tập đối với Nguyễn Văn D thì phát hiện thấy Nguyễn Văn D đang điều khiển xe mô tô tại tổ dân phố Đ, phường B, thành phố P. Lúc này, Nguyễn Văn D có thái độ chống đối và điều khiển xe bỏ chạy, sau đó D đã lấy từ trong người ra 01 túi nilon màu trắng và ném tại vỉa hè. Tổ công tác của Cơ quan điều tra đã tiến hành truy đuổi được D và tiến hành lập biên bản sự việc, thu giữ của D 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy), 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu vàng bcạ, biển kiểm soát 20H1 - 04848.

Hồi 23 giờ cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an thành phố S tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Văn D thuộc tổ dân phố T, phường Đ, thành phố P, kết quả phát hiện, thu giữ 01 cân tiểu ly màu trắng và 01 túi nilon màu trắng kích thước (11,5 x 7,1) cm, bên trong chứa 05 túi nilon màu trắng có cùng kích thước (3,5 x 3)cm, tại giường ngủ của D.

Hồi 01 giờ 45 phút ngày 01/6/2024, tại Phòng K1 Công an tỉnh T, Cơ quan điều tra Công an thành phố S tiến hành cân số vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Nguyễn Tất L, kết quả như sau:

  • + Số chất tinh thể màu trắng có khối lượng là 0,789g;
  • + 02 viên nén màu xám có khối lượng là 0,756g;
  • + Số sợi thực vật khô màu nâu có khối lượng là 2,021g;

Hồi 15 giờ 30 phút ngày 01/6/2024, tại Phòng K1 Công an tỉnh T, Cơ quan điều tra Công an thành phố S tiến hành cân số vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Nguyễn Văn D, kết quả như sau:

  • + Số chất tinh thể màu trắng có khối lượng là 0,395g;
  • + 01 túi nilon đựng 05 túi nilon bám dính chất màu trắng không xác định được khối lượng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã trưng cầu giám định số tinh thể màu trắng, số viên nén màu xám và số sợi thực vật khô màu nâu nghi là mà túy thu giữ của Nguyễn Tất L. Tại bản Kết luận giám định số 677/KL-KTHS ngày 09/6/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh T kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine có khối lượng là: 0,789 gam. Các viên nén màu xám trong phong bì ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, Loại MDMA có khối lượng là: 0,756 gam. Tại bản Kết luận giám định số 4499/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của V - Bộ C kết luận: Mẫu sợi thực vật khô cắt nhỏ màu nâu đựng trong phong bì ký hiệu A3 gửi giám định là Cần sa.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã trưng cầu giám định số tinh thể màu trắng và chất màu trắng bám dính trên 05 túi nilon nghi là ma túy đã thu giữ của Nguyễn Văn D. Tại bản Kết luận giám định số 675/KL-KTHS ngày 09/6/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh T kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine có khối lượng là: 0,395 gam. Mẫu chất màu trắng bám dính trên 05 gói nilon trong bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định là ma túy; Loại Ketamine.

Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Tất L và Nguyễn Văn D khai nhận như sau:

Khoảng tháng 2/2024, trong một lần đi hát Karaoke tại khu vực thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, D được một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) giới thiệu có ma túy để bán và cung cấp tài khoản telegram để liên lạc mua ma túy. Khoảng 13 giờ ngày 29/5/2024, D nhắn tin qua T3 cho người đàn ông trên đặt mua 1,5 chỉ “Ke” và 02 viên “Kẹo” với giá 2.300.000đ và hẹn giao dịch tại đường dân sinh thuộc TDP C, phường Đ, TP P. Sau đó D đi một mình đến khu vực trên thì gặp một người đàn ông không quen biết (đeo khẩu trang, đội mũ bảo hiểm) ngồi trên xe mô tô (không xác định được nhãn hiệu, biển kiểm soát), D đi đến gần và nói D đến lấy hàng thì người này yêu cầu D thanh toán tiền mua ma túy. D đưa cho người đàn ông trên số tiền mặt 2.300.000đ thì người này chỉ tay về phía lề đường cách vị trí đứng khoảng 5 – 7 mét thì D thấy có 01 vỏ bao thuốc lá, D hiểu là người này chỉ chỗ lấy ma túy nên đi đến cầm lên kiểm tra thì thấy bên trong có 01 túi nilon bên trong chứa 02 viên “Kẹo” và 02 túi nilon chứa “Ke”. D mang toàn bộ số ma túy trên về nhà cất giấu. Đến ngày 31/5/2024, D mang 02 viên “Kẹo” và 01 chỉ “Ke” bán cho L, còn lại 0,5 chỉ “Ke” Duy cất giấu trong người để khi có người hỏi D sẽ mang ra bán kiếm lời.

Khoảng 18 giờ ngày 31/5/2024, L đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi điện thoại từ số 0878.153.xxx của một người phụ nữ đến số điện thoại 0345.633.xxx của L hỏi “còn hàng không để cho em một chỉ hai viên” L hiểu ý là người này hỏi mua 01 chỉ ma túy “Ke” và 02 viên ma túy “Kẹo” nên L đồng ý rồi hẹn người này giao dịch tại chỗ cửa ngân hàng V1 gần ngã ba Phố C. Sau đó L liên hệ với D để hỏi mua số lượng ma túy trên thì D đồng ý bán số ma tuy trên cho L với giá 2.100.000đ. Sau đó L chuyển số tiền 2.100.000đ và số tài khoản mà D cung cấp rồi điều khiển xe đi đến khu vực Z thuộc phường B, TP P gặp D mua ma túy. Tại đây, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu nâu đến và lấy ra từ túi da màu đen đang đeo trên người 01 túi nilon có 02 viên ma túy “Kẹo” và 01 túi nilon chứa ma túy “Ke” đưa cho L rồi D rời đi. Sau khi nhận được ma túy L đi đến khu vực ngân hàng V1 để bán cho người phụ nữ đã đặt mua ma túy nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác Công an thành phố Sông Công phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 75/ CT-VKS ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Tất L về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Tất L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Tất L và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

  • - Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Tất L phạm tội: “Mua trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự (Đối với cả 2 bị cáo), xử phạt bị cáo D từ 30 - 36 tháng tù, bị cáo L từ 24 - 30 tháng tù.
  • - Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 của BLHS phạt bổ sung bị cáo D 05 triệu đồng nộp vào ngân sách nhà nước, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Tất L.
  • - Áp dụng Điều 47 của BLHS buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải truy nộp số tiền 2.100.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS, khoản 2 Điều 106 của BLTTHS:
  • + Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và các vật chứng không có giá trị sử dụng (túi da màu đen, vỏ bao gói mẫu, túi nilon, cân tiểu ly),
  • + Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 màu trắng của bị cáo D và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S22 của bị cáo L.
  • + Trả lại cho bà Nguyễn Thị H Trà 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, BKS 20H1-048.48, đã qua sử dụng, trả lại cho bà Nguyễn Thị D1 01 chiếc xe đạp điện màu xanh trắng, đã qua sử dụng.
  • - Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định.

Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì về hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Bà Nguyễn Thị Hương T và bà Nguyễn Thị D1) đều có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe mô tô và chiếc xe đạp điện để quản lý sử dụng.

Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đều có ý kiến nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công và tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Tất L đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung Kết luận điều tra và Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận:

Do muốn kiếm tiền và thu lợi bất chính từ việc buôn bán ma túy, nên các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Tất L đã nảy sinh ý định mua ma túy về với mục đích bán cho người khác để kiếm lời bất chính. Ngày 20/5/2024 bị cáo L còn mua của một người không rõ tên tuổi, địa chỉ qua mạng xã hội 2,021 gam ma túy loại cần sa với số tiền 150.0000 đồng với mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời. Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 31/5/2024, tại khu vực khu vực cổng nhà máy Z thuộc TDP C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo L mua của bị cáo D 0,789 gam chất chất ma túy loại Ketamine và 0,756 gam chất ma túy, loại MDMA với số tiền 2.100.000 đồng mục đích mang đi bán cho người phụ nữ đã đặt mua trước đó, tuy nhiên bị cáo L chưa kịp giao, bán các chất ma túy trên thì bị phát hiện, thu giữ vật chứng nêu trên. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Văn D có hành vi tàng trữ 0,395 gam ma túy loại Ketamine mang theo người nhằm mục đích bán kiếm lời thì bị phát hiện.

Xét thấy, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên buộc phải nhận thức và biết được hành vi mua và tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác là trái pháp luật nhưng vì mục đích vụ lợi nên các bị cáo vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Hành vi đó của các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Tất L đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của BLHS. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên truy tố các bị cáo về Tội danh và Điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ và đúng quy định của Pháp luật.

Nội dung của Điều 251 của BLHS quy định:

  1. Người nào ... mua bán trái phép chất ma túy ..., thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
  2. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng...

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ của tội phạm là nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước ta về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương, đồng thời còn làm gia tăng tệ nạn liên quan đến ma tuý, ảnh hưởng nhất định đến công cuộc đấu tranh, bài trừ tệ nạn ma túy của Đảng và Nhà nước ta. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự nhằm tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án hình sự: “Mua bán trái phép chất ma túy”, do các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Tất L thực hiện với vai trò độc lập khác nhau, trong vụ án này các bị cáo đều là người trực tiếp đi mua ma túy về nhằm mục đích bán cho người khác để kiếm lời bất chính. Trong đó, bị cáo D đã bán cho bị cáo L 1,545 gam ma túy các loại thu lợi bất chính số tiền 2.100.000 đồng, còn lại 0,395 gam ma túy bị cáo D mua về chưa kịp bán thì bị phát hiện, bắt giữ. Ngoài ra, trước đó bị cáo L còn mua 2,021 gam ma túy loại cần sa, tuy nhiên, bị cáo L chưa kịp giao, bán số ma túy cho người khác thì bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện thu giữ vật chứng. Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét lên một mức án phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ phạm tội do từng bị cáo gây ra.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Ngoài ra, các bị cáo còn có ông, bà nội được Đảng và Nhà nước ta tặng thưởng H1, Huy chương kháng chiến, nên các bị cáo đều được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.

Về nhân thân, thấy các bị cáo là thanh niên tuổi đời còn trẻ, chưa có tiền án tiền sự nhưng lại thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản thân dẫn đến phạm tội. Vì vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc tính chất và mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, để nên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội và cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian phù hợp để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Đối với bị cáo Nguyễn Văn D đã đạt được mục đích thu lời bất chính, do đó cần áp dụng khoản 5 Điều 251 của BLHS phạt bổ sung bị cáo D một khoản tiền nộp vào ngân sách nhà nước. Đối với bị cáo Nguyễn Tất L theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo không có tài sản riêng, sống phụ thuộc gia đình, phạm tội nhưng chưa được hưởng lợi gì. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo L.

[5] Về số tiền bị cáo Nguyễn Văn D bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn L1 thu được là 2.100.000 đồng, xét thấy đây là khoản tiền thu lợi bất chính, cần truy thu nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của BLHS.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của BLHS và Điều 106 BLTTHS xử lý vật chứng vụ án như sau: Số ma túy thu giữ của các bị cáo còn lại sau giám định, các bì niêm phong (bên trong có vỏ túi nilon, vỏ bao gói mẫu...), 01 cân tiểu ly, túi da màu đen, xét thấy đây là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 màu trắng thuộc quyền sở hữu của bị cáo D và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galxy S22 màu trắng thuộc quyền sở hữu của bị cáo L1, xét thấy đây là công cụ, phương tiện phạm tội (Các bị cáo đã dùng điện thoại để liên lạc, mua bán trái phép ma túy, vì vậy, cần tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, BKS 20H1-048.48 thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị Hương T (Là mẹ đẻ bị cáo D) và chiếc xe đạp điện thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị D1 (Là mẹ đẻ bị cáo L1). Tuy nhiên, việc các bị cáo mượn của bà T, bà D1 chiếc xe mô tô và chiếc xe đạp điện nêu trên đi giao dịch mua bán trái phép chất ma tuý bà T, bà D1 không biết. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bà T, bà D1 yêu cầu được trả lại chiếc xe mô tô để gia đình quản lý, sử dụng. Xét yêu cầu của bà T, bà D1 là có căn cứ cần chấp nhận, trả lại cho bà T, bà D1 những tài sản nói trên.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với các bị cáo, như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.

[8] Cần áp dụng Điều 329 của BLTTHS ra quyết định tạm giam các bị cáo với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định.

[9] Đối với người bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn D và người bán ma túy Cần sa cho bị cáo Nguyễn Tất L, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xác minh làm rõ.

- Đối với người phụ nữ đặt mua ma túy của bị cáo L, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xác minh làm rõ.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu một khoản án phí HSST nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định pháp luật.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 47, khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của BLHS đối với các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Tất L;
  • - Các điều 106, 136, 329, 331 và Điều 333 của BLTTHS;
  • - Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Tất L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt chính:

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 01/6/2024.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Tất L 28 (Hai mươi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 31/5/2024.

3. Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn D 05 (Năm) triệu đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Tất L.

4. Ra Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Tất L mỗi bị cáo với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

5. Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải truy nộp số tiền 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm nghìn đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.

6.Về xử lý vật chứng vụ án như sau:

6.1. Tịch thu tiêu hủy những vật chứng sau đây:

  • - 01 bì niêm phong ký hiệu H1 bên trong có 05 vỏ túi nilon và vỏ bao gói mẫu.
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa 0,598 gam chất ma túy, loại MDMA và vỏ bao gói mẫu.
  • - 01 túi da màu đen, có dây đeo màu đen.
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu T1, bên trong chứa 0,293 gam chất ma túy loại Ketamine và vỏ bao gói mẫu.
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,689 gam chất ma túy, loại Ketamine và vỏ bao gói mẫu.
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu A5 bên trong có 02 vỏ túi nilon màu trắng.
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu T2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu T, H và 01 vỏ túi nilon.
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu A6, bên trong có 02 vỏ túi nilon màu trắng.
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu số 4499/KL-KTHS, bên trong có 1,077 gam chất ma túy, loại cần sa và vỏ bao gói mẫu.
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu A4, bên trong có vỏ bì niêm phong cũ ký hiệu A.
  • - 01 cân tiểu ly, không rõ nhãn hiệu, đã cũ.

6.2. Trả lại các tài sản sau đây cho chủ sở hữu:

  • - Trả lại cho bà Nguyễn Thị H Trà 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu vàng bạc, BKS 20H1-048.48, số khung: RLHJF2706BY857660, số máy: JF27E1046977, đã qua sử dụng.
  • - Trả lại cho bà Nguyễn Thị D1 01 chiếc xe đạp điện màu xanh trắng, đã qua sử dụng.

6.3. Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước:

  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15, màu trắng, đã qua sử dụng được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu K;
  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Samsung Galaxy S22 màu trắng được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu Y;

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên).

7. Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Tất L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST nộp vào ngân sách Nhà nước.

8. Thông báo quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Tất L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Bà Nguyễn Thị Hương T và bà Nguyễn Thị D1 có quyền kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Thái nguyên;
  • - THADS TP. Sông Công;
  • - Công an TP. Sông Công;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ đến vụ án;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN: CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Toản

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS - ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 76/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Duy và Nguyễn Tất Lâm phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger