Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ AN NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày: 10-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Duy Minh

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Hồ Xuân Dũng;
  2. Bà Trương Thị Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mang Đức Kham là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2344/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thu V, sinh ngày 04 tháng 04 năm 1985, tại huyện H, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1958 và bà Võ Thị Thu H, sinh năm 1964; chồng: Nguyễn Thành T, sinh năm 1985; con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 10 tháng 06 năm 2014, Nguyễn Thị Thu V bị Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 17/2014/HS-ST (đã chấp hành xong).
  • Ngày 22 tháng 3 năm 2017, Nguyễn Thị Thu V bị Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 09/2017/HS-ST (Bản án số 71/2017/HS-PT xử phúc thẩm tuyên y án), (đã chấp hành xong).
  • Ngày 29 tháng 10 năm 2024, Nguyễn Thị Thu V bị Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 100/2024/HS-ST (Bản án đã có hiệu lực pháp luật).

Bị cáo Nguyễn Thị Thu V bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01 tháng 10 năm 2024 cho đến nay; có mặt.

Bị H1: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1966 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định.

Người làm chứng: Chị Hà Thị Thùy L1, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Thị Thu V nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 26 tháng 7 năm 2024, V đi bộ đến khu vực C mới A thuộc phường B, thị xã A dạo tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. V đến gian hàng quần áo của chị Hà Thị Thùy L1, sinh năm 1983 ở khu vực H, phường N, thị xã A xem quần áo. Tại đây, V thấy bà Bùi Thị L, sinh năm 1966 ở khu vực L, phường N, thị xã A có sơ hở trong quản lý tài sản nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bà L. Lợi dụng lúc bà L thử quần áo, V đã lén lút lấy số tiền 1.200.000 đồng được bà L cất trong túi quần treo trong phòng thử đồ và 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A13 được bà L bỏ trong mũ bảo hiểm đặt gần phòng thử đồ. Sau khi lấy được tài sản, V bỏ vào túi quần của mình và rời khỏi gian hàng. Nghi ngờ V trộm cắp tài sản nên bà L, chị L1 cùng quần chúng nhân dân đã truy đuổi và giữ V lại để kiểm tra. Qua kiểm tra, V giao nộp lại toàn bộ tài sản đã trộm cắp và thừa nhận hành vi của mình.

Bản kết luận định giá tài sản số 27 ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản thị xã A kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, kiểu thiết bị SM-A135F/DS, số seri: R58T902VGRT có trị giá 1.000.000 đồng.

Vật chứng, tài liệu đồ vật thu giữ của vụ án bao gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, kiểu thiết bị SM-A135F/DS, số seri: R58T902VGRT và 1.200.000 đồng tiền mặt (đã trả cho bị hại).

Tại bản Cáo trạng số 75/CT-VKSAN ngày 14 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu V về tội “Trộm cắp tài sản” khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Về hình phạt:

  • Bị cáo Nguyễn Thị Thu V trong quá trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị hại vắng mặt nhưng có Đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu V từ 09 đến 12 tháng tù.
  • Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung với hình phạt của Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.

* Về vật chứng: Không

* Về dân sự: Bị hại bà Bùi Thị L đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Thu V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Thị Thu V tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai bị hại, phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với Kết luận định giá tài sản và phù hợp với những chứng cứ khác đã được thu thập. Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Với ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài cá nhân, khoảng 09 giờ 40 phút ngày 26 tháng 7 năm 2024, lợi dụng sơ hở của bà Bùi Thị L trong lúc thử quần áo tại gian hàng của chị Hà Thị Thùy L1 tại Chợ M thuộc phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định, Nguyễn Thị Thu V đã lén lút chiếm đoạt số tiền 1.200.000 đồng và 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A13 trị giá 1.000.000 đồng của bà L. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.200.000 đồng. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tào sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình năm 2015.

[3] Xét tại thời điểm phạm tội bị cáo là người đủ khả năng để nhận thức hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách bất hợp pháp là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn nơi xảy ra vụ án. Bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án đưa ra xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, đáng lẽ bị cáo phải rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân, khắc phục, sữa chửa sai lầm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; Bị hại vắng mặt nhưng có Đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Xét về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Xét về bồi thường dân sự: Bị hại bà Bùi Thị L đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

[8] Về đề nghị của Kiểm sát viên: Về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu V 09 (chín) tháng tù.
  3. Tổng hợp hình phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” của Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đã có hiệu lực. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu V phải chấp hành chung là 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 26 tháng 7 năm 2024 đến ngày 29 tháng 7 năm 2024.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Bùi Thị L không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  6. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10 tháng 12 năm 2024). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND thị xã An Nhơn;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - Chi cục THADS thị xã An Nhơn;
  • - Công an thị xã An Nhơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Duy Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu V trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger