Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày: 06/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Thảo.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Đoàn Văn Hộ.
    2. Ông Đinh Văn Hải.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Quỳnh Như - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024 tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:

Nông Văn T; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 09/7/1980 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12 phổ thông; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nông Văn B và bà: Vương Thị Đ (đều đã chết); Vợ: Hoàng Thị T1 - sinh năm 1982; Con: có 02 con, con thứ nhất sinh năm 1999, con thứ hai sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng kể từ ngày 19/12/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam theo Quyết định tạm giam số 147/2024/HSST-QĐTG ngày 04/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị Diệp H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C – Sở tư pháp tỉnh Cao Bằng; Có mặt tại phiên tòa nhưng vắng mặt khi tuyên án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 10 phút ngày 19/12/2023 tại khu vực thuộc tổ B, phường Đ, thành phố C, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố C phát hiện, bắt quả tang Nông Văn T (sinh năm 1980; trú tại: xóm T, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng) đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần đằng trước bên phải chiếc quần T đang mặc trên người: 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (do T tự giác giao nộp).

Quá trình điều tra đủ căn cứ để xác định: Ngày 19/12/2023, Nông Văn T làm phụ hồ tại khu vực quảng trường thuộc tổ B, phường Đ, thành phố C. Khoảng 21 giờ cùng ngày, T đi bộ một mình trên đoạn đường khu vực quảng trường để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp một người đàn ông không quen biết, dáng giống người nghiện nên hỏi mua ma túy với số tiền 180.000đ (một trăm tám mươi nghìn đồng). Người đàn ông này cầm tiền, đồng thời đưa cho T 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa ma túy, rồi đi đâu không rõ. T cất gói ma túy vào túi đằng trước bên phải chiếc quần đang mặc trên người rồi đi bộ tìm chỗ để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu ở trên.

Ngày 19/12/2023 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành cân xác định khối lượng số ma túy đã thu giữ. Kết quả khối lượng chất bột màu trắng đã thu giữ là 0,15gam (không phẩy mười năm gam).

Ngày 20/12/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định trưng cầu giám định số 415 đối với vật chứng vụ án. Tại Bản kết luận giám định số 33/KL-KTHS ngày 27/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận “chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H)”.

Hành vi của Nông Văn T đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại bản Cáo trạng số: 62/CT-VKSTP ngày 21/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Nông Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nông Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với khối lượng ma túy bị thu giữ cũng như kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh C. Bị cáo khai nhận bản thân sử dụng ma túy (heroine) từ năm 2020 bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Ngày 19/12/2023 bị cáo mua ma tuý với mục đích để bản thân sử dụng, ngoài ra không có mục đích gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nông Văn T; đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu, tiêu hủy phong bì niêm phong bên trong có chứa ma tuý thu giữ của bị cáo Nông Văn T. Về án phí: Bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội và đã có có đơn xin miễn án phí. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí với quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật, mức đề nghị hình phạt đối với bị cáo T. Tuy nhiên, bị cáo mù chữ, là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; tàng trữ ma túy với khối lượng không lớn (0,15 gam); quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có đơn xin miễn án phí. Vì vậy, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, không áp dụng hình phạt bổ sung và cho bị cáo được miễn án phí.

Tại phần tranh luận, bị cáo nhất trí với quan điểm bảo vệ của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh:

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định; vật chứng cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định:

Vào hồi 21 giờ 10 phút ngày 19/12/2023 tại khu vực thuộc tổ B, phường Đ, thành phố C, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma túy Công an thành phố C bắt quả tang Nông Văn T có hành vi tàng trữ 0,15 gam (không phẩy mười năm gam) ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Nông Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo Nông Văn T là đối tượng nghiện ma túy lâu năm, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, người bào chữa trình bày: Bị cáo mù chữ, là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy đây không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đến hoàn cảnh, nhân thân bị cáo khi lượng hình để đưa ra mức án phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4]. Về hình phạt:

[4.1]. Về hình phạt chính:

Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Nông Văn T, bởi bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không thể tự cải tạo, cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định. Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét toàn diện hoàn cảnh, nhân thân; tính chất, mức độ hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Bị cáo không biết chữ, là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn; bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, đưa ra hình phạt ở mức khởi điểm của khung hình phạt bị truy tố đối với bị cáo là phù hợp và vẫn đủ nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo; cũng như răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4.2]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng:

Cần tịch thu, tiêu hủy số ma tuý hoàn lại sau giám định vì là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành.

[6]. Về án phí:

Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đã có đơn xin miễn án phí nên cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án miễn án phí cho bị cáo.

[7]. Về những vấn đề khác:

[7.1]. Đối với nguồn gốc số Heroin bị thu giữ, Nông Văn T khai được mua với một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực quảng trường thuộc tổ B, phường Đ, thành phố C; việc trao đổi không ai biết, chứng kiến nên cơ quan điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra, xác minh.

[7.2] Xét thấy đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng về tội danh, hình phạt, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, quan điểm xử lý vật chứng là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo Nông Văn T nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh và mức hình phạt:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo Nông Văn T 12 tháng tù. Thời gian chấp hành án đối với bị cáo được tính kể từ ngày 19/12/2023.

[2] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì mặt trước ghi: “Số 33/KL-KTHS hoàn lại mẫu sau giám định vụ Nông Văn T, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 19/12/2023” (kèm theo Kết luận giám định số 33/KL-KTHS ngày 27/12/2023 của Phòng Kỹ thuật Công an tỉnh C).

Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 81 ngày 22/03/2024.

[3] Về án phí:

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, miễn án phí cho bị cáo Nông Văn T.

[4] Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở tư pháp;
  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Công an TP Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS TP Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Hương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt: Bị cáo Nông Văn T 12 tháng tù. Thời gian chấp hành án đối với bị cáo được tính kể từ ngày 19/12/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger