Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BÌNH MINH

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21/10/2024

V/v “Tranh chấp ly hôn và nuôi

con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thúy Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sơn Mứt

Ông Lương Phi Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân

thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa:

Không thuộc trường hợp tham gia phiên toà.

Ngày 21 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 159/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Nguyễn Ngọc T, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Số 399A, tổ 08, khóm Đ, phường Th, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, có đơn xin vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Lương Văn R, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 13/5/2024, đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện ngày 24/6/2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Lê Nguyễn Ngọc T trình bày: Qua tìm hiểu nhau, bà T và ông Lương Văn R tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn được UBND xã Mỹ Hòa, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/6/2020. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian gần đây thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm sống nên ly thân từ tháng 02/2024 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông R.

+ Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Lương Ngọc Trâm A, sinh ngày 30/01/2021 hiện đang sống cùng bà T, bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lương Ngọc Trâm A, sinh ngày 30/01/2021, không yêu cầu ông Lương Văn R cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng bà tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn Lương Văn R đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án số 159/2024/TB-TLVA ngày 27/5/2024; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 542/2024/TB-TA ngày 28/6/2024; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 629/2024/TB-TA ngày 07/8/2024; Thông báo yêu cầu chứng cứ (lần 1) số 630/2024/TB-TA ngày 07/8/2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/9/2024 và giấy triệu tập xét xử lần 1; Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03/10/2024 và giấy triệu tập xét xử lần thứ hai nhưng ông R không cung cấp bản khai ý kiến và không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn Lê Nguyễn Ngọc T và bị đơn Lương Văn R vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Lê Nguyễn Ngọc T khởi kiện xin ly hôn với ông Lương Văn R có nơi cư trú tại xã Mỹ Hoà, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long do đó Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long thụ lý và giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình theo thủ tục sơ thẩm được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 03/10/2024, Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất, ông R đã được tống đạt hợp lệ: Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập xét xử lần 1 bằng hình tống đạt cho người thân là mẹ ruột nhận thay nhưng ông R vắng mặt không rõ lý do. Sau đó, ông R đã được tống đạt hợp lệ: Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03/10/2024 và giấy triệu tập xét xử lần thứ hai bằng hình tống cho người thân là mẹ ruột nhận thay nhưng tại phiên tòa hôm nay ông R vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do bị đơn Lương Văn R đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ hai lần mà vẫn vắng mặt không rõ lý do và nguyên đơn Lê Nguyễn Ngọc T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông R và bà T.

[2] Về nội dung khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Xét về quan hệ hôn nhân:

Sau khi tổ chức lễ cưới, bà T và ông R có đăng ký kết hôn được UBND xã Mỹ Hòa, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/6/2020 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét quá trình chung sống của bà T và ông R: Theo lời khai của bà T, sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng bà chung sống hạnh phúc nhưng gần đây thường hay cãi nhau dẫn đến bất đồng quan điểm sống trong cuộc sống hàng ngày và tình cảm vợ chồng. Vợ chồng bà không sống chung từ tháng 02/2024 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông R không có đến Toà án để trình bày và nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà T nên phải chịu hậu quả bất lợi theo khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Do giữa bà T và ông R đã không còn thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 dẫn đến tình trạng hôn nhân trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông R.

[2.2.] Về nuôi con chung:

[2.2.1] Trong quá trình chung sống, bà T và ông R có 01 con chung tên Lương Ngọc Trâm A, sinh ngày 30/01/2021 hiện đang sống cùng bà T. Bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lương Ngọc Trâm A. Bà T không yêu cầu ông Lương Văn R cấp dưỡng nuôi con. Hiện bà T đang làm việc tại Công ty TNHH Tỷ Bách thu nhập bình quân khoảng 7.000.000 đồng/tháng, đủ điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng con chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông R không đến Toà án để trình bày và nêu ý kiến đối với yêu cầu về con chung của bà T và không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu của bà T về việc nuôi con chung nên phải chịu hậu quả bất lợi theo khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Do đó để tiếp tục đảm bảo điều kiện phát triển về thể chất và tinh thần cho cháu, Hội đồng xét xử thống nhất giao cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lương Ngọc Trâm A, sinh ngày 30/01/2021 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Ông Lương Văn R có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung Lương Ngọc Trâm A, sinh ngày 30/01/2021 mà không ai được quyền cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.3.] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà T và ông R chưa yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T và ông R không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Bà Lê Nguyễn Ngọc T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn theo quy định khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng Điều 19, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Nguyễn Ngọc T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Nguyễn Ngọc T được ly hôn với ông Lương Văn R.

2. Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:

2.1. Về nuôi con chung: Giao cho bà Lê Nguyễn Ngọc T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lương Ngọc Trâm A, sinh ngày 30/01/2021 cho đến khi cháu Lương Ngọc Trâm A đủ 18 tuổi.

Ông Lương Văn R có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung Lương Ngọc Trâm A, sinh ngày 30/01/2021 mà không ai được quyền cản trở.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Lê Nguyễn Ngọc T và ông Lương Văn R chưa yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Nguyễn Ngọc T và ông Lương Văn R không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Lê Nguyễn Ngọc T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn. Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0012702 ngày 24/5/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bình Minh. Bà Lê Nguyễn Ngọc T đã nộp xong.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008.

6. Án xử công khai, bà Lê Nguyễn Ngọc T và ông Lương Văn R được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long: 01;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh: 02;
  • - Chi cục thi hành án DS thị xã Bình Minh: 02;
  • - Đương sự: 02;
  • - UBND xã Mỹ Hòa: 01;
  • - Lưu hồ sơ vụ án: 04.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thị Thúy Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 21/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Nguyễn Ngọc T - Lương Văn R
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger