|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20/8/2024 “V/v: Tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Thành Đô.
- Bà Nguyễn Thị Lê.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Tâm – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 49/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2024, về “Tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Dương Thị Thanh M, sinh năm 1984.
HKTT: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Ninh Thị Nguyên H, sinh năm 1987
Địa chỉ: Số A, tổ A – ĐT 741, ấp I, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. -
Bị đơn: Anh Nguyễn Hải N, sinh năm 1980.
HKTT: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước. -
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
+ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B.
Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1981
Theo văn bản ủy quyền số 365/CNVPĐKĐĐ-HCTH ngày 28/6/2024 của ông Hồ Quý C – Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B. -
+ Văn phòng C1.
Địa chỉ: Khu T (trước là khu Đ), thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Thừa B, sinh năm 1981
Theo Giấy ủy quyền ngày 05/7/2024 của ông Nguyễn H1 – Trưởng văn phòng C1.
-
+ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B.
(Bà Ninh Thị Nguyên H có mặt; ông Nguyễn Hải N vắng mặt; ông Phạm Ngọc T và ông Lê Thừa B xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 28/02/2024, quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà Dương Thị Thanh M và người đại diện theo uỷ quyền của bà M là bà Ninh Thị Nguyên H trình bày:
Bà M và ông Nguyễn Hải N trước đây là vợ chồng, do mâu thuẫn nên đã ly hôn năm 2023 theo Quyết định số 87/QDST-HNGĐ, ngày 15/09/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Sau khi ly hôn bà M và ông N tự thoả thuận lập văn bản phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là thửa đất số 573; tờ bản đồ số 18; diện tích 4222,4m² (trong đó có 300m² đất ở tại nông thôn và 3922,4m² đất trồng cây lâu năm; Văn bản được công chứng chứng thực tại Văn phòng C1.
Căn cứ vào văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung số: 0063/ quyển số: 01/2024/TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại Văn phòng C1 công chứng thì bà M được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 806,8m² (có 100m² ONT); thửa số 581, anh N được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 1581,5m² cùng tờ bản đồ số 18; địa chỉ tại: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Sau khi ký tại Văn phòng C1 xong do đã ly hôn, mặt khác bà M ở Đ nên đưa luôn bộ hồ sơ công chứng cho anh N làm thủ tục tách thửa đất cho bà M theo quy định, sau một thời gian đưa hồ sơ bà M hỏi anh N tiến trình tới đâu thì anh N né tránh. Do không biết được anh N đã nộp hồ sơ sang tên thửa đất cho bà M chưa thì bà M liên hệ với Chi nhánh VPDKĐĐ huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước hỏi thì phát hiện anh N không nộp bộ hồ sơ phân chia tài sản cho bà M mà N đã tự liên hệ với Công ty Đ1 bản đồ và trắc địa bản đồ 401 (Công ty Đ1) để chỉnh sửa bản vẽ từ thửa sổ 581 thành 585 vì đó mà Chi nhánh Văn phòng Đăng kí Đất đai huyện B (sau đây viết tắt là Chi nhánh VPDKĐĐ huyện B) theo kết quả đo vẽ đó đã nhập phần diện tích chia cho bà M (thửa 581) vào giấy CNQSD đất đứng tên Nguyễn Hải N; Vì vậy, bà M khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước giải quyết:
Công nhận thoả thuận phân chia tài sản chung số: 0063/quyển số: 01/2024/TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại Văn phòng C1 giữa bà Dương Thị Thanh M với anh Nguyễn Hải N là hợp pháp.
Huỷ trang 4 giấy CNQSD đất số DN 155845; vào sổ cấp GCN số VP 05713 đứng tên Nguyễn Hải N, Dương Thị Thanh M điều chỉnh biến động ngày 18/01/2024 với nội dung diện tích còn lại 806,8m² ( 100m² ONT) thuộc thửa 585.
Công nhận diện tích đất 806,8m² (có 100m² ONT); kết quả đo đạc của Công ty Đ1 số: 1033, Chi nhánh VPDKĐĐ huyện Bù Đăng xét duyệt ngày 03/01/2024;
thửa số 581; tờ bản đồ số 18; giấy CNQSD đất số DN 155845; vào sổ cấp GCN số VP 05713, do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Phước ký ngày 20/12/2023 đứng tên Nguyễn Hải N, Dương Thị Thanh M là của bà Dương Thị Thanh M. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ở trên, đồng thời sửa bổ sung đề nghị công nhận thửa đất 585 thay cho thửa 581 và công nhận tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của bà M; đối với chi phí tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết, nguyên đơn tự nguyện chịu không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản ghi lời khai ngày 01/5/2024 bị đơn ông Nguyễn Hải N trình bày:
Ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà M, nhưng bà M phải cam kết sau khi cháu Nguyễn Dương Minh K là con chung của ông N và bà M đủ 18 tuổi thì bà M có quyền sang nhượng hay như thế nào tùy bà M, nhưng phải mua cho cháu K 01 thửa đất khác. Nếu bà M đồng ý như vậy ông ký giấy cho bà đứng tên đất, nếu không bà M muốn làm gì thì làm chứ ông không ký lại biên bản thỏa thuận cho bà M; ông không cầm hồ sơ của bà M đi tách thửa như bà M trình bày; việc Chi nhánh VPDKĐĐ huyện Bù Đăng điều chỉnh thửa đất mà ông và bà M thỏa thuận chia cho bà M từ 581 thành 585 sau khi tách các thửa 582, 583 và 584 là do họ tự làm chứ ông không yêu cầu, không biết việc này; sau khi lập biên bản thỏa thuận chia tài sản hai bên đã giao nhận đất trên thực địa, hiện nay ông không tranh chấp gì tài sản trên đất mà bà M đang cho thuê. Do công việc bận nên ông không tham gia thẩm định tài sản, không yêu cầu xác định giá, định giá tài sản và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo qui định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Văn phòng Đăng kí đất đai huyện B trình bày: Vào ngày 03/01/2024, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện B duyệt mảnh trích đo địa chính các thửa đất gồm:
- - Thửa đất số 581, tờ bản đồ số 18, diện tích 806, 8m² (có 100m² đất ở nông thôn), chủ sử dụng đất Dương Thị Thanh M. Thửa đất số 582, tờ bản đồ số 18, diện tích 916, 6 m² (có 100m² đất ở nông thôn), chủ sử dụng đất T. Thửa đất số 583, tờ bản đồ số 18, diện tích 917, 58m² (có 100m² đất ở nông thôn), chủ sử dụng đất Nguyễn Văn Q. Thửa đất số 584, tờ bản đồ số 18, diện tích 1581, 5m² (đất trồng cây lâu năm), chủ sử dụng đất Nguyễn Hải N.
- - Ngày 08/01/2024, ông Nguyễn Hải N có đến Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả của UBND huyện B để nộp hồ sơ tách thửa chuyển nhượng, phân chia tài sản chung có mã hồ sơ 000.30.67.H10-240108-0027 cụ thể gồm:
- - Chuyển nhượng cho ông Trương H2 cùng vợ là bà Trần Thị H3 thửa đất số 582, diện tích 916,6m², mục đích sử dụng: Trong đó có 100m² đất ở nông thôn và 816,6m² đất trồng cây lâu năm theo HĐCN số 0060 quyển số 01/2024/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/01/2024 của Văn phòng C1;
- - Chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Q cùng vợ là bà Phạm Thị T1 thửa đất số 583, diện tích 917,5m² mục đích sử dụng: Trong đó có 100m² đất ở nông thôn và 817,5m², đất trồng cây lâu năm theo Hợp đồng chuyển nhượng số 0061 quyển số 01/2024/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/01/2024 của Văn phòng C1;
- Đối với diện tích đất 806,8m² (có 100m² đất ở nông thôn), thửa đất số 581, tờ bản đồ số 18, tách từ thửa 573 giấy CNQSD đất số DN 155845; số vào sổ cấp GCN: VP 05713, do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B ký ngày 20/12/2023 đứng tên Nguyễn Hải N và Dương Thị Thanh M theo Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung số 0063/quyền số 01/2024/TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại Văn phòng C1 giữa bà Dương Thị Thanh M và ông Nguyễn Hải N từ khi thực hiện ký duyệt trích đo địa chính cho đến nay Chi nhánh VPDKĐĐ huyện Bù Đăng không tiếp nhận hồ sơ nào có liên quan.
- Trong quá trình thực hiện tách thửa và thoả thuận phân chia tài sản chủ sử dụng đất không nộp hồ sơ phân chia tài sản đối với thửa đất số 581 nên nếu không nộp thì trong trường hợp thửa đất mới phát sinh do tách thửa, hợp thửa thì hủy bỏ số thứ tự thửa đất cũ, số thửa đất mới được đánh số tiếp theo số thứ tự thửa đất có số hiệu lớn nhất trong tờ bản đồ. Do đó hủy số thửa đất số 581 đánh thành thửa đất số 585.
- Đối với yêu cầu huỷ nội dung trang 4 “Diện tích còn lại 806,8m² thuộc thửa đất số 585 tại trang 4 của giấy CNQSD đất số DN 155845, số vào sổ cấp GCN: VP 05713 đứng tên Nguyễn Hải N, Dương Thị Thanh M điều chỉnh biến động ngày 18/01/2024" Chi nhánh VPDKĐĐ huyện B không có ý kiến về hủy nội dung này của nguyên đơn là bà Dương Thị Thanh M đề nghị Toà án huyện B giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng công nhận diện tích đất 806,8m² nói trên thuộc quyền sử dụng của bà M thì xác định là thửa đất số 585 theo trang 4 giấy CNQSD đất đã chỉnh lý.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1 trình bày:
Ngày 05/01/2024, Văn phòng C1 có chứng nhận Văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung số: 0063/ quyển số: 01/2024/TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại Văn phòng C1 theo đó bà Dương Thị Thanh M được toàn quyền quản lý sử dụng đối với diện tích 806,8m² (có 100m² ONT ); kết quả đo đạc của Công ty Đ1; thửa số 581; tờ bản đồ số 18; ông Nguyễn Hải N quản lý sử dụng diện tích đất 1581,5m² theo kết quả đo đạc của Công ty Đ1 trắc địa bản đồ 401 thuộc thửa số 584; tờ bản đồ số 18; địa chỉ tại: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước. Việc công chứng văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung nói trên thực hiện đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền công chứng theo quy định tại Điều 41, 42 Luật Công chứng năm 2014 Văn bản công chứng do công chứng viên soạn thảo theo đề nghị của người yêu cầu công chứng; Quyền sử dụng đất đủ điều kiện để lập văn bản theo quy định tại Điều 188 của Luật đất đai năm 2013. Nội dung của hợp đồng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Các bên tham gia giao kết giao dịch tự nguyện và có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. Do đó, việc bà Dương Thị Thanh M yêu cầu Công nhận diện tích đất 806,8m² (có 100m² ONT); kết quả đo đạc của Công ty Đ1 bản đồ 401 số: 1033, Chi nhánh VPD Kí đất đai xét duyệt ngày 03/01/2024; thửa số 581; tờ bản đồ số 18; thuộc giấy CNQSD đất số DN 155845; vào sổ cấp GCN số VP 05713, do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Phước ký ngày 20/12/2023 đứng tên Nguyễn Hải N, Dương Thị Thanh M là của bà Dương Thị Thanh M là có căn cứ.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trình bày ý kiến, quan điểm về vụ án:
Về tố tụng, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; Việc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ theo đúng quy định của BLTTDS; Việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các thủ tục tố tụng khác theo đúng quy định của BLTTDS.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận diện tích đất 806,8m2 (có 100m2 đất thổ cư), thửa số 581 (nay là thửa số 585); tờ bản đồ số 18 là của chị Dương Thị Thanh M; đề nghị Chi nhánh VPDKĐĐ huyện B điều chỉnh theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin giải quyết vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân; bị đơn đồng ý thỏa thuận phân chia tài sản nhưng không đồng ý ký thủ tục để nguyên đơn đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản; Như vậy, hai bên tranh chấp việc thực hiện quyền và nghĩa vụ sau khi lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”.
[3] Về nội dung: Bà M và ông N trước đây là vợ chồng, đã ly hôn Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 87/ 2023/QÐST – HNGĐ, ngày 15/09/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Sau khi ly hôn bà M và ông N tự thoả thuận lập văn bản phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là thửa đất số 573; tờ bản đồ số 18; diện tích 4222,4m² (trong đó có 300m² đất ở tại nông thôn và 3922,4m² đất trồng cây lâu năm. Trong diện tích 4222,4m² tách thửa do chuyển nhượng cho ông Trương H2 cùng vợ là bà Trần Thị H3 thửa đất số 582, diện tích 916,6m²; Tách thửa do chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Q cùng vợ là bà Phạm Thị T1 thửa đất số 583, diện tích 917,5m².
Diện tích còn lại là 2.388,3m² ông N bà M lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng để phân chia cho ông N được quản lý, sử dụng diện tích đất 1581,5m² đất trồng cây lâu năm; “Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng" được Văn phòng C1; quyển số: 01/2024/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/01/2023. Bà M được quyền quản lý sử dụng diện tích còn lại là 806,8m² (có 100m² đất ở nông thôn và 706,8m² đất trồng cây lâu năm); Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng” được Văn phòng C1; quyển số: 01/2024/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/01/2023.
Sau khi lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản như trên ông N và bà M đã mời cơ quan địa chính đo, cắm mốc chia đất trên thực địa; Các bên đã thực hiện điều chỉnh biến động sang tên cho vợ chồng ông Trương Hải b Trần Thị H3 thửa đất số 582, diện tích 916,6m²; vợ chồng ông Nguyễn Văn Q bà Phạm Thị T1 thửa đất số 583, diện tích 917,5m² và ông Nguyễn Hải N thửa đất số 583, diện tích đất 1581,5m². Riêng thửa 581 chia cho bà M không có ai nộp hồ sơ Chi nhánh VPDKĐĐ huyện B để yêu cầu điều chỉnh biến động sang tên cho bà M, nên sau khi điều chỉnh biến động các thửa 582, 583 và 584 thì Chi nhánh VPDKĐĐ huyện Bù Đ đã hủy số thửa 581 thành thửa đất số 585 trên trang 4 giấy CNQSD đất số DN 155845; vào sổ cấp GCN số VP 05713, do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B ký ngày 20/12/2023 của ông N bà M. Như vậy, việc chia tài sản giữa ông N với bà M đối với diện tích đất 806,8m² chia cho bà M đã hoàn thành về nội dung, nhưng về thủ tục chưa hoàn thành nên chưa có hiệu lực; Tuy nhiên, bà M cũng không tự tiếp tục thực hiện được thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên cho bà M vì số thửa đất trong văn bản chia tài sản chung của vợ chồng được công chứng là 581 nay trên giấy CNQSD đất đã đổi thành thửa 585. Do đó, để tiếp tục thực hiện thủ tục công nhận diện tích đất trên cho bà M thì ông N và bà M phải ký lại văn bản thỏa thuận khác thay đối với thửa đất số 585.
Theo bà Mai s khi hai bên lập văn bản thỏa thuận chia tài sản bà đã giao văn bản cho ông N để ông N liên hệ làm thủ tục cùng lúc với thủ tục tách các thửa 582, 583 và 584 vì giấy CNQSD đất chỉ có một bản gốc, nhưng sau đó ông N không nộp hồ sơ để tách thửa đất 581 của bà. Khi bà M phát hiện sự việc trên đã liên hệ với ông N để ký lại văn bản thỏa thuận chia tài sản chung theo số thửa đất mới (585), nhưng ông N gây khó khăn không đồng ý ký lại văn bản để bà M làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất; vì vậy, bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng” được Văn phòng C1; quyển số: 01/2024/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/01/2023; công nhận diện tích đất 806,8m² (có 100m² đất ở nông thôn); yêu cầu huỷ nội dung trang 4 “Diện tích còn lại 806,8m² thuộc thửa đất số 585 tại trang 4 của giấy CNQSD đất số DN 155845, số vào sổ cấp GCN: VP 05713 đứng tên Nguyễn Hải N, Dương Thị Thanh M điều chỉnh biến động ngày 18/01/2024".
Quá trình giải quyết vụ án ông N thừa nhận việc tự nguyện thỏa thuận chia tài sản chung như bà M trình bày là đúng, nhưng không thừa nhận có cầm hồ sơ của bà M để liên hệ tách thửa cho bà M như bà M trình bày. Hiện nay ông N không tranh chấp đối với tài sản đã phân chia nhưng chỉ đồng ý ký lại văn bản thỏa thuận chia tài sản cho bà M khi bà M cam kết khi con chung của ông N bà M là cháu Nguyễn Dương Minh K đủ 18 tuổi thì bà M phải mua hoặc sang tên cho cháu K một lô đất khác, nhưng ông N không nêu rõ lý do yêu cầu cũng như diện tích, vị trí lô đất mà bà M phải mua cho cháu K khi cháu đủ 18 tuổi; Bà M không đồng ý vì giữa bà M với ông N không có thỏa thuận nào như yêu cầu của ông N ở trên, đồng thời việc chia tài sản giữa bà M với ông N đã hoàn thành.
Xét thấy việc ông N bà M thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tự nguyện, không trái pháp luật, được công chứng theo qui định của pháp luật; sau khi phân hai bên đã bàn giao tài sản trên thực tế; giữa hai bên không tranh chấp gì về nội dung đã thỏa thuận; Tuy nhiên, do các bên không nộp hồ sơ tách thửa đối với diện tích đất chia cho bà M nên quá trình thực hiện tách thửa Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện Bù Đăng đã hủy số thửa 581 thành 585 nên các bên cần phải ký lại văn bản thỏa thuận chia tài sản thể hiện số thửa 585, nhưng ông N lấy lý do bà M phải cam kết khi con chung của ông N bà M đủ 18 tuổi thì bà M phải sang tên hoặc mua cho con chung một lô đất khác là không có cơ sở, vì thỏa thuận phân chia tài sản chung giữa ông N và bà M đã có hiệu lực và không có nội dung trên, nên ý kiến của ông N không được chấp nhận.
Căn cứ kết quả xem xét, thẩm định tài sản ngày 16 tháng 5 năm 2024 thửa đất diện tích 806,8m² (trong đó có 100m² đất ở nông thôn); Ranh giới: Đông giáp thửa 582 của ông Trương H2; Tây giáp thửa 577 của ông Vũ Xuân T2; Nam giáp đường Quốc lộ 14; Bắc giáp suối. Tài sản trên: 01 kiot diện tích 135,5m² gồm có 01 phòng ngủ, 01 bếp nấu + khu vực bán hàng; 01 phòng chứa đồ; 01 nhà vệ sinh; kết cấu xây tường xây gạch ống (10cm) có tô trát và lăn sơn, riêng tường phía trước xây 20cm, ốp đá hoa cương mặt ngoài; mái lợp tôn lạnh, la phông tôn lạnh; nền gạch men; Mái hiên phía trước diện tích 37,8m², kết cấu: khung sắt, nền xi măng (hồ xi + cát), mái lợp tôn; Lan can (hiên) phía sau diện tích 16,3m², kết cấu: nền lát gạch men, khung sắt, mái lợp tôn.
Từ các căn cứ trên xét thấy yêu cầu của nguyên đơn bà M đề nghị công nhận thỏa thuận chia tài sản chung lập ngày 05/01/2024 tại Văn phòng C1 giữa bà M với ông N là hợp pháp; Huỷ nội dung: “Diện tích còn lại 806,8m² (100m² ONT) thuộc thửa 585” tại trang 4 của Giấy CNQSD đất số DN 155845; vào sổ cấp GCN số VP 05713 đứng tên Nguyễn Hải N, Dương Thị Thanh M điều chỉnh biến động ngày 18/01/2024; Công nhận diện tích đất 806,8m² (có 100m² ONT) thửa số 585; tờ bản đồ số 18; giấy CNQSD đất số DN 155845; vào sổ cấp GCN số VP 05713, do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Phước ký ngày 20/12/2023 đứng tên Nguyễn Hải N, Dương Thị Thanh M thuộc quyền sử dụng của bà M là có cơ sở, cần được chấp nhận.
Đối với yêu cầu tại phiên tòa đề nghị công nhận tài sản gắn liền với thửa đất 585 đã được phân chia thuộc quyền sở hữu của bà M. Xét thấy đây là yêu cầu phát sinh tại phiên tòa nhưng về bản chất là gắn liền với yêu cầu khởi kiện ban đầu do tài sản trên đất là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất; mặt khác, quá trình giải quyết vụ án ông N cũng không tranh chấp quyền sử dụng đất cũng như tài sản trên đất đối với bà M, nên để tránh xảy ra tranh chấp về sau trong trường hợp thay đổi chủ sử dụng đất, cần chấp nhận yêu cầu bổ sung của nguyên đơn tại phiên tòa là phù hợp.
[4] Về án phí: Do các đương sự không tranh chấp về giá trị tài sản nên phải chịu án phí không có giá ngạch; do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn anh N phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000đ; Tuy nhiên, tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày số tiền án phí không nhiều, phía nguyên đơn đã nộp tạm ứng trước, nên nay nguyên đơn tự nguyện đồng ý chịu án phí thay cho bị đơn.
[5] Về chi phí tố tụng: Số tiền chi phí xem xét, thẩm định của vụ án là 7.557.000đ, nguyên đơn đã nộp tạm ứng trước, đã chi phí hết. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập.
[6] Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Khoản 4 Điều 147; Khoản 3 Điều 157; Điều 227; Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các điều 38, 39, 40, 41 Luật hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ Nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH16 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Dương Thị Thanh M đối với bị đơn Nguyễn Hải N.
Công nhận Văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung số công chứng: 0063/quyển số: 01/2024/TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại Văn phòng C1 giữa bà Dương Thị Thanh M với ông Nguyễn Hải N là hợp pháp;
Huỷ nội dung: “Diện tích còn lại 806,8m² (100m² ONT ) thuộc thửa 585” tại trang 4 của giấy CNQSD đất số DN 155845; vào sổ cấp GCN số VP 05713 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Phước cấp ngày 20/12/2023 cho người sử dụng đất là ông Nguyễn Hải N cùng vợ là bà Dương Thị Thanh M; Chi nhánh VPDKĐ đai huyện B điều chỉnh biến động ngày 18/01/2024.
Công nhận diện tích đất 806,8m² (có 100m² ONT ); thửa số 581 (hiện nay là thửa số 585); tờ bản đồ số 18; thuộc giấy CNQSD đất số DN 155845; vào sổ cấp GCN số VP 05713, do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Phước cấp ngày 20/12/2023 cho người sử dụng đất là ông Nguyễn Hải N cùng vợ là bà Dương Thị Thanh M thuộc quyền sử dụng của bà Dương Thị Thanh M;
Bà M có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy CNQSD đất theo quy định pháp luật.
- Về án phí: Bà Dương Thị Thanh M phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009090 ngày 29/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ bản án đượng tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Huệ |
Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
- Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hôn nhân và gia đình về mâu thuẫn gia đình
