Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16-10-2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Chung Quốc Hội

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Ngô Rạng Đông.
  2. Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Đình Toàn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc: Bà Cao Thị Nhung – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 10 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 176/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 199/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ H, sinh năm 1980 (có mặt).

Bị đơn: Ông Lý Ngô Hoàng B, sinh năm 1974 (có mặt).

Địa chỉ: Tổ A, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ H trình bày:

Bà H và ông B kết hôn trên cơ sở tự tìm hiểu yêu thương nhau rồi tiến đến hôn nhân vào năm 1999, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn D, huyện P (nay là UBND phường D, thành phố P) ngày 21/4/2003.

Quá trình chung sống vợ chồng có 02 người con tên Lý Hoài P, sinh năm 2000 và Lý Hoài L, sinh ngày 20/4/2006.

Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi nhau, ông Bình thường X ghen tuông vô cớ, quan hệ hôn nhân và tình cảm không không còn, vợ chồng đã ly thân từ tháng 03/2024 đến nay nhưng vẫn còn sống chung nhà.

Bà Lê Thị Mỹ H yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về hôn nhân: Bà H yêu cầu được ly hôn với ông B.

Về con chung: Bà H xác nhận vợ chồng có 02 người con tên Lý Hoài P, sinh năm 2000 và Lý Hoài L, sinh ngày 20/4/2006 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà H xác nhận vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà H xác nhận vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, ông Lý Ngô Hòa B1 trình bày:

Ông B1 xác nhận lời trình bày của bà H về việc kết hôn, thời gian chung sống, ly thân, mâu thuẫn vợ chồng là đúng.

Tuy nhiên, mâu thuẫn cũng xuất phát từ hai bên, không riêng từ lỗi của ông B1, nhưng sau khi mâu thuẫn xảy ra ông B1 có nhiều lần xin lỗi vợ để vợ chồng chung sống nhưng bà H từ chối, tránh né, chặn cuộc gọi điện thoại. Ông B1 yêu cầu bà H cho thời gian để ông sửa đổi nhưng bà H không đồng ý.

Về con chung: Ông B1 xác nhận vợ chồng có 02 người con tên Lý Hoài P, sinh năm 2000 và Lý Hoài L, sinh ngày 20/4/2006. Hiện các con đã trưởng thành.

Ông Lý Ngô Hòa B1 có ý kiến:

Về hôn nhân: Không đồng ý ly hôn với bà H.

Về con chung: Hiện các con đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông B1 xác nhận có tài sản nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông B1 xác nhận vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa dân sự sơ thẩm. Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng và xác minh, thu thập đầy đủ chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà H được ly hôn với ông B1.

Về con chung: Bà H và ông B1 xác nhận vợ chồng có 02 người con tên Lý Hoài P, sinh năm 2000 và Lý Hoài L, sinh ngày 20/4/2006 đã trưởng thành, đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ H, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn ông Lý Ngô Hòa B1 có địa chỉ cư trú tại Khu phố A, phường D, thành phố P, Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông B1 tự nguyện tìm hiểu thương nhau và chung sống từ năm 1999, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn D, huyện P (nay là UBND phường D, thành phố P) ngày 21/4/2003 (theo Trích lục kết hôn số 796/2024/TLKH-BS ngày 10/6/2024), đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của bà H: Bà H cho rằng quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, có lần ông Bình Đ đánh bà H và đòi ly hôn với bà H. Ông B1 thừa nhận có những lần uống rượu không kiềm chế được lời nói của mình nên đã có hành vi không đúng với bà H, nhưng ông không đồng ý ly hôn vì ông vẫn còn thương bà H. Ông B1 có nhiều lần xin lỗi nhưng bà H có tình né tránh, chặn cuộc gọi của ông B1.

Hội đồng xét xử đã giải thích và phân tích quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình, tuy nhiên bà H vẫn cương quyết ly hôn với ông B1, không đồng ý về đoàn tụ. Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân của bà H và ông B1 là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà H không còn thương yêu ông B1. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H được ly hôn với ông B1.

[3] Về con chung:

Bà H và ông B1 xác nhận vợ chồng có 02 người con tên Lý Hoài P, sinh năm 2000 và Lý Hoài L, sinh ngày 20/4/2006, hiện nay các cháu đã trưởng thành, Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung:

Bà H và ông B1 xác nhận vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có tranh chấp về tài sản chung, các bên có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác.

[5] Về nợ chung:

Bà H và ông B1 xác nhận vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí sơ thẩm:

Bà Lê Thị Mỹ H phải chịu án phí sơ thẩm xin ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 266; Điều 267; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 11; Điều 91 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;

- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ H được ly hôn với ông Lý Ngô Hòa B1.
  2. Về con chung: Bà H và ông B1 xác nhận vợ chồng có 02 người con tên Lý Hoài P, sinh năm 2000 và Lý Hoài L, sinh ngày 20/4/2006, hiện nay các cháu đã trưởng thành, Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về tài sản chung: Bà H và ông B1 xác nhận vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có tranh chấp về tài sản chung, các bên có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác.
  4. Về nợ chung: Bà H và ông B1 xác nhận vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Mỹ H phải chịu án phí sơ thẩm xin ly hôn là 300.000 đồng. Bà H đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000430 ngày 19/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc. Khấu trừ vào tiền án phí, bà H không phải nộp thêm.
  6. Bà H và ông B1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND Tp. Phú Quốc;
  • - Chi cục THADS Tp. Phú Quốc;
  • - UBND phường Dương Đông
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Quốc Hội

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 16/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger