Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG

Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16-09-2024

Về việc tranh chấp “Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Trinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Chi – Bà Huỳnh Thị Lệ.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bách – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 315/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Thanh N – sinh năm 1992; địa chỉ: Đường K, phường H, quận L, TP Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Cửu K – sinh năm 1992; địa chỉ: Đường T, phường H, quận L, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Trương Thị Thanh N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Thanh N và ông Nguyễn Cửu K kết hôn năm 2022, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận L, TP Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau.

Sau khi kết hôn thì vợ chồng về sinh sống tại phường H, quận L, TP Đà Nẵng. Trong quá trình sinh sống thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn dẫn đến cãi vã, xô xát. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, cách sống. Ngoài ra, ông K thường xuyên chơi game, cá độ gây nợ nên phải dùng toàn bộ số tiền cưới của vợ chồng để trả nợ. Từ ngày 12/7/2024 hai vợ chồng xảy ra xô xát nên bà N đã về nhà mẹ tại phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng sống. Từ đó đến vợ chồng sống ly thân, người nào chỉ biết bổn phận người đó, không còn liên lạc, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Do đó, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm nên bà N đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về quan hệ con chung, quan hệ chia tài sản chung, nợ chung: Bà Trương Thị Thanh N xác nhận vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung, không có nợ chung.

Bị đơn - ông Nguyễn Cửu K mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để giải quyết và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu:

- Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, việc giải quyết vụ án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại BLTTDS, đảm bảo cho các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Quá trình tòa án thụ lý giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn đã có ý kiến trình bày quan điểm của mình và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS; mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để tham dự phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

- Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Trương Thị Thanh N được ly hôn với ông Nguyễn Cửu K; về quan hệ con chung, tài sản chung, nợ chung bà Trương Thị Thanh N khai nhận không có nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp về ly hôn giữa nguyên đơn bà Trương Thị Thanh N với bị đơn ông Nguyễn Cửu K thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại các Điều 208, 209, 210 và 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn ông Nguyễn Cửu K được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa ông Nguyễn Cửu K vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt ông Nguyễn Cửu K.

[2] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Thanh N đối với ông Nguyễn Cửu K thì thấy:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Thanh N và ông Nguyễn Cửu K kết hôn năm 2022 và có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận L, TP Đà Nẵng theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 117/2022 ngày 07/9/2022, hôn nhân tự nguyện. Trong quá trình chung sống bà Trương Thị Thanh N cho rằng vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng do bất đồng quan điểm sống, cách sống, vợ chồng không nhường nhịn nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát. Từ ngày 12/7/2024 hai vợ chồng xảy ra xô xát nên bà N đã về nhà mẹ tại phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng sống. Từ đó đến vợ chồng sống ly thân, người nào chỉ biết bổn phận người đó, không còn liên lạc, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng ông Nguyễn Cửu K vắng mặt không có lý do, bỏ mặc cho tình trạng hôn nhân của hai vợ chồng ngày càng trầm trọng.

HĐXX xét thấy, qua xác minh thì chính quyền địa phương nơi ông Nguyễn Cửu K đang chung sống xác nhận vợ chồng bà N và ông K có mâu thuẫn, hiện nay không còn sống chung là sự thật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa bà N và ông K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Trương Thị Thanh N là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về quan hệ con chung, quan hệ chia tài sản chung, nợ chung: Bà Trương Thị Thanh N xác nhận bà và ông Nguyễn Cửu K không có con chung, không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nếu sau này bà Trương Thị Thanh N và ông Nguyễn Cửu K có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác nếu có yêu cầu.

[3] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

[4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Án phí ly hôn 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), bà Trương Thị Thanh N phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân, gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

I. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn” của bà Trương Thị Thanh N đối với ông Nguyễn Cửu K.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trương Thị Thanh N được ly hôn ông Nguyễn Cửu K.

2. Về quan hệ con chung, quan hệ chia tài sản chung, nợ chung: Bà Trương Thị Thanh N khai nhận không có con chung, không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

II. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Án phí ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), bà Trương Thị Thanh N phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0000834 ngày 23.7.2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Bà Trương Thị Thanh N đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

III. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Liên Chiểu;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu;
  • - UBND phường H, quận L;
  • (Giấy chứng nhận kết hôn số 117/2022 ngày 07/9/2022)
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Thị Thanh N + Nguyễn Cửu K ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger