|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13 - 4 - 2024. V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung sau khi ly hôn |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông La Văn Việt.
Bà Trần Thị Đổi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 13 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 71/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Số D, Khu V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Bị đơn: Ông Tạ Văn T, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Số D, Khu V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Bà L, ông T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 01 năm 2024, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L trình bày: Bà và ông Tạ Văn T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 10 tháng 7 năm 2017 (Giấy đăng ký kết hôn số 39/2017). Trong quá trình chung sống bà và ông T bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vả, sống không hợp nhau, vợ chồng không thể hàn gắn lại được. Cuộc sống vợ chồng không còn mang lại hạnh phúc nên bà Nguyễn Thị Kim L yêu cầu được ly hôn với ông Tạ Văn T.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim L trình bày bà và ông Tạ Văn T có hai con chung tên Tạ Công N, sinh ngày 03/9/2002 (đã trưởng thành) và Tạ Thị Yến T1, sinh ngày 04/9/2007. Khi ly hôn, bà đồng ý giao con chung tên Tạ Thị Yến T1, sinh ngày 04/9/2007 cho ông Tạ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng và bà L không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung tên Tạ Công N, sinh ngày 03/9/2002 đã trưởng thành trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kim L trình bày bà và ông Tạ Văn T không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim L trình bày bà và ông Tạ Văn T không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Tạ Văn T trình bày trong bản tự khai ngày 25 tháng 3 năm 2024 như sau: Về quan hệ hôn nhân: Ông đồng ý với bà Nguyễn Thị Kim L về thời điểm kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn. Nay bà L yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.
Về con chung: Ông và bà L có hai con chung tên Tạ Công N, sinh ngày 03/9/2002 (đã trưởng thành) và Tạ Thị Yến T1, sinh ngày 04/9/2007. Khi ly hôn, ông yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Tạ Thị Yến T1, sinh ngày 04/9/2007 và ông không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung. Riêng con chung tên Tạ Công N, sinh ngày 03/9/2002 đã trưởng thành đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1]. Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con chung sau khi ly hôn với bị đơn ông Tạ Văn T. Ông Tạ Văn Thiện đang cư trú tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung sau khi ly hôn”; thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.2] Trước phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L và bị đơn ông Tạ Văn T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L và bị đơn ông Tạ Văn T.
[1.3] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải nhưng bị đơn ông Tạ Văn T xin vắng mặt. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L có đơn đề nghị không hòa giải và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L và bị đơn ông Tạ Văn T tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 39/2017, đăng ký ngày 10 tháng 7 năm 2017 do Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An cấp nên hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim L và ông Tạ Văn T là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L trình bày cho rằng trong thời gian đầu chung sống bà Nguyễn Thị Kim L và Tạ Văn T chung sống với nhau hạnh phúc. Tuy nhiên, về sau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả, sống không hợp nhau, vợ chồng không thể hàn gắn lại được nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông T. Đối với bị đơn ông Tạ Văn T có ý kiến trình bày ông đồng ý với bà Nguyễn Thị Kim L về thời điểm kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn, nay bà L yêu cầu ly hôn thì ông cũng đồng ý. Trước phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L và bị đơn ông Tạ Văn T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt chứng tỏ cả hai bên không có thiện chí để hàn gắn tình cảm. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, tình cảm vợ chồng đã không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L đối với bị đơn ông Tạ Văn T là có căn cứ, phù hợp với Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị Kim L và ông Tạ Văn T thống nhất trình bày có hai con chung tên Tạ Công N, sinh ngày 03/9/2002 (đã trưởng thành) và Tạ Thị Yến T1, sinh ngày 04/9/2007. Khi ly hôn, bà Nguyễn Thị Kim L và ông Tạ Văn T thống nhất thỏa thuận do con chung tên Tạ Công N đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, đối với con con chung tên Tạ Thị Yến T1, sinh ngày 04/9/2007 bà L, ông T thống nhất giao cho ông Tạ Văn T nuôi dưỡng, tại bản tự khai cháu Tạ Thị Yến T1 cũng có nguyện vọng sống với ông Tạ Văn T. Do đó, trên cơ sở ý kiến của các đương sự, ý kiến nguyện vọng của con chung, vì lợi ích của con chung, đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống, trong học tập nên Hội đồng xét xử thấy rằng cần tiếp tục giao cháu Tạ Thị Yến T1, sinh ngày 04/9/2007 cho ông Tạ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Kim L và ông Tạ Văn T không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kim L và ông Tạ Văn T thống nhất trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim L và ông Tạ Văn T thống nhất trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 53, Điều 55, Điều 56, khoản 1 Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung sau khi ly hôn” đối với bị đơn ông Tạ Văn T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với ông Tạ Văn T.
- Về con chung: Ông Tạ Văn T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Tạ Thị Yến T1, sinh ngày 04/9/2007.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kim L và ông Tạ Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim L và ông Tạ Văn T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Kim L đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006078 ngày 18/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An để thi hành. Bà Nguyễn Thị Kim L đã nộp xong.
- Án xử sơ thẩm công khai. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L và bị đơn ông Tạ Văn T vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Kim L và ông Tạ Văn T không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Thành |
Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 13/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung sau khi ly hôn
- Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kim L ly hôn Tạ Văn T
