Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHƯỚC

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số:76/2024/DS-ST

Ngày 26-8-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng

mua bán tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Hải Âu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tấn Phúc.
  2. Bà Trần Thị Thu Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, mở phiên Tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 142/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp “ tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-DS ngày ngày 26 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trương Văn Tùng, sinh năm 1966.
  2. Địa chỉ: Ấp Hưng Điền, xã Hưng Thạnh, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nghĩa, sinh năm 1972.
  4. Địa chỉ: Ấp Mỹ Lợi, xã Phước Lập, huyện Tân Phước, Tiền Giang.

(Ông Tùng có mặt, ông Nghĩa vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện, Tờ tự khai ngày 31/5/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trương Văn Tùng trình bày:

Vào khoảng tháng 02/2024, thông qua người khác giới thiệu, ông có thỏa thuận với ông Nguyễn Văn Nghĩa về việc ông sẽ mua con khóm từ ông Nghĩa với số lượng là 50 thiên, đơn giá 650.000 đồng/thiên. Hai bên thỏa thuận bằng lời nói với nhau. Sau đó ông Nghĩa đã nhận cọc từ ông Thương với số tiền là 10.000.000 đồng vào ngày 13/4/2024, có làm giấy biên nhận do ông Nghĩa viết và ký tên. Theo nội dung giấy biên nhận, chiều ngày 13/4/2024, ông Nghĩa sẽ giao toàn bộ số lượng khóm con cho ông Thương, nếu không thực hiện đúng thì ông Nghĩa chịu bồi thường hợp đồng.

Tuy nhiên, sau khi đã nhận trước số tiền là 10.000.000 đồng, ông Nghĩa không thực hiện việc giao con khóm cho ông Thương. Ông Thương đã nhiều lần liên lạc yêu cầu ông Nghĩa giao khóm con hoặc trả lại tiền và bồi thường hợp đồng nhưng ông Nghĩa không thực hiện. Ông Thương cũng đã nộp đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân xã Phước lập giải quyết nhưng ông Nghĩa cũng không đến vào các ngày 23/5/2024 và 30/5/2024.

Do ông Nghĩa không giao con khóm nên ông đã phải mua con khóm ở nơi khác với giá là 1.300.000 đồng/thiên vì thời điểm này con khóm đang rất mắc và nguồn cung khan hiếm.

Nay ông Trương Văn Tùng khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn Nghĩa phải trả lại số tiền cọc là 10.000.000 đồng và phải bồi thường hợp đồng theo thỏa thuận với số tiền là 10.000.000 đồng, tổng cộng là 20.000.000 đồng. Yêu cầu ông Nghĩa trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn Nghĩa đã được Tòa án tống đạt thông báo về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện, Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để dự phiên tòa nhưng ông Nghĩa vẫn vắng mặt không có lý do và không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, phần tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Trương Văn Tùng yêu cầu ông Nghĩa Văn Nghĩa trả lại số tiền 10.000.000 đồng bán con khóm đã ứng trước và bồi thường hợp đồng do không thực hiện đúng thỏa thuận. Ông Nghĩa có có nơi cư trú tại ấp Mỹ Lợi, xã Phước Lập, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại Điều 430 Bộ luật Dân sự và Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên toà hôm nay, bị đơn là ông Nguyễn Văn Nghĩa đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3]. Về nội dung: Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trương Văn Tùng yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn Nghĩa phải trả lại số tiền là 10.000.000 đồng đã ứng trước và bồi thường hợp đồng do vi phạp hợp đồng với số tiền là 10.000.000 đồng, tổng cộng là 20.000.000 đồng, yêu cầu trả một lần sau khi án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.1]. Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn ông Tùng đã giao nộp cho Tòa án bản chính “Biên nhận” ngày 13/4/2024, nội dung tài liệu này phù hợp với trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, ông Tùng khởi kiện đã có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp theo quy định tại Khoản 1 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn ông Nguyễn Văn Nghĩa mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vắng mặt và cũng không có văn bản hay ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy bị đơn đã mặc nhiên thừa nhận nợ và từ bỏ quyền của mình thể hiện qua việc không đến Tòa án tham gia tố tụng nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3.2]. Giữa ông Tùng và ông Nghĩa có thỏa thuận về việc ông Tùng đồng ý mua con khóm từ ông Nghĩa với số lượng 50 thiên, đơn giá 650.000 đồng/thiên. Ngày 13/4/2024, ông Nghĩa đã ứng trước số tiền là 10.000.000 đồng và thỏa thuận sẽ giao con khóm cho ông Tùng vào chiều ngày 13/4/2024. Như vậy giữa ông Tùng và ông Nghĩa đã có giao kết hợp đồng mua bán tài sản với nhau theo quy định tại Điều 430 Bộ luật Dân sự.

Theo thỏa thuận, ông Nghĩa sẽ giao con khóm cho ông Tùng vào chiều ngày 13/4/2024 nhưng ông Nghĩa không thực hiện việc giao tài sản là đã vi phạm hợp đồng giữa hai bên, vi phạm về thời hạn thực hiện hợp đồng theo quy định tại Điều 434 Bộ luật Dân sự và phải chịu trách nhiệm do không giao tài sản cho ông Tùng theo quy định tại Điều 437 Bộ luật Dân sự.

Do ông Nghĩa không giao con khóm nên ông Tùng phải tìm mua con khóm ở chổ khác với giá 1.300.000 đồng/thiên (cao hơn giá hợp đồng với ông Nghĩa là 650.000 đồng) để kịp tiến độ cho việc xuống giống, trồng trọt. Từ đó gây nhiều thiệt hại cho ông Tùng nên ông Nghĩa phải có trách nhiệm bồi thường như thỏa thuận tại “Biên nhận” ngày 13/4/2024 là phù hợp với quy định của pháp luật dân sự.

Từ những nhận định trên, đủ cở sở xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Văn Tùng buộc bị đơn ông Nguyễn Văn Nghĩa trả lại số tiền ứng trước là 10.000.000 đồng và bồi thường hợp đồng với số tiền là 10.000.000 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về phương thức thanh toán: Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Tùng yêu cầu Tòa án buộc ông Nghĩa phải trả tổng số tiền là 20.000.000 đồng, yêu cầu trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy ông Nghĩa đã vi phạm nghĩa vụ của bên bán, ông Nghĩa cũng không có thiện chí thanh toán tiền cho ông Tùng khi không tham gia giải quyết theo giấy mời của Uỷ ban nhân dân xã Phước Lập. Ông Tùng đã nhiều lần yêu cầu ông Nghĩa trả tiền nhưng bị đơn vẫn không trả mà kéo dài thời gian trả nợ, gây nhiều thiệt thòi về quyền lợi cho nguyên đơn. Do đó Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết buộc bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời gian yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.

[5]. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên nguyên đơn ông Tùng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Bị đơn là ông Nguyễn Văn Nghĩa phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6]. Về quyền kháng cáo: Ông Tùng và ông Nghĩa có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Các Điều 357, 430, 433, 437 và Điều 468 Bộ luật Dân sự;
  • - Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 266, 267, 271, 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trương Văn Tùng.
  2. Buộc ông Nguyễn Văn Nghĩa phải trả cho ông Trương Văn Tùng số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Thực hiện nghĩa vụ giao trả ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày ông Trương Văn Tùng có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng ông Nguyễn Văn Nghĩa chậm trả tiền thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tại thời điểm thanh toán.

  3. Về án phí:
    • - Ông Nguyễn Văn Nghĩa phải chịu 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Hoàn trả cho ông Trương Văn Tùng số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003414 ngày 11/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
  4. Về quyền kháng cáo: Ông Trương Văn Tùng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án; Ông Nguyễn Văn Nghĩa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ Tòa án tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Tân Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phước;
  • - Các đương sự:
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thạch Hải Âu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/DS-ST ngày 26/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 76/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông T kiện ông N yêu cầu trả tiền cọc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger