Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/DS-PT

Ngày: 16/9/2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trúc Lâm.

Các Thẩm phán: Ông Ngô Chịu và bà Vũ Ngọc Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hải Mi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện Kiểm Sát tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Vương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 và 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ dân sự lý số 41/2024/DSPT ngày 31 tháng 05 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐ-PT ngày 12/08/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 186/2024/QĐPT-DS ngày 5/9/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1952; Trú tại: Thôn X, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Ngô Minh T1, Luật sư thuộc Văn phòng L - Đoàn Luật sư tỉnh P; có mặt.

  3. Bị đơn:
    1. Đặng Văn T2, sinh năm 1955;
    2. Phạm Xuân T3, sinh năm 1958;

    Cùng trú tại: Thôn X, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.

    Đại diện theo ủy quyền của ông Đặng Văn T2: Ông Đặng Sơn K, sinh năm 1983; Trú tại: Thôn X, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.

    Đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Xuân T3: Ông Bùi Trọng T4, sinh năm 1994; Trú tại: Khu phố D, phường H, thị xã Đ, Phú Yên.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Phạm Xuân T3: Ông Lê Hồng D, Luật sư V1 – Đoàn Luật sư tỉnh P.

Đều có mặt.

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ủy ban nhân dân huyện T. Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc V – Phó trưởng phòng tài nguyên môi trường huyện T; vắng mặt.
    2. Ủy ban nhân dân xã A, huyện T. Đại diện theo ủy quyền: ông Huỳnh Hữu M, Phó chủ tịch UBND xã A; vắng mặt.
    3. Vợ chồng ông Đặng Quốc K1, sinh năm 1978 và bà Phạm Thị Kim Q, sinh năm 1978.
    4. Phan Văn Đ, sinh năm 1994;
    5. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962;
    6. Lê Thị H1, sinh năm 1960;

    Cùng trú tại: Thôn X, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.

    Đại diện theo ủy quyền của ông Đặng Quốc K1 và bà Lê Thị H1: Ông Đặng Sơn K, sinh năm 1983; Trú tại: Thôn X, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Phần tranh chấp ông Nguyễn Văn T với ông Phạm Văn T5:
  2. Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

    Diện tích đất 2.505m² (Đo đạc thực tế 2.148,2m²) thuộc thửa đất số 10, tờ bản đồ số 8, có mục đích sử dụng là BHK do cha ông T là Nguyễn Văn T6 khai hoang từ năm 1962 và trồng dương, sử dụng liên tục. Đến năm 1978 ông T6 chết, diện tích đất này ông T quản lý, sử dụng cho đến nay, quá trình sử dụng bị ông Đặng Văn T2 lấn chiếm một phần, phần còn lại ông T trồng dương như hiện nay. Trong quá trình sử dụng từ những năm 1980, bà Phạm Thị G (mẹ ông T5) và ông T5 tranh chấp chặt dương của ông trồng trên đất, được UBND xã A giải quyết nhưng không có kết quả; đến năm 2016, ông T5 tiếp tục tranh chấp và được UBND huyện T giải quyết, ông T5 cho rằng trong tổng diện tích đất 2.505m² (Đo đạc thực tế 2.148,2m²) là của mẹ ông Phạm Thị G nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị C. Sự việc này đã được UBND huyện T giải quyết tại Quyết định số 575/QĐ-CT ngày 10/5/2016, tuy nhiên do việc giải quyết vụ án sai về thẩm quyền nên UBND huyện đã rút lại quyết định.

    Trên thực tế, trong quá trình sử dụng, năm 1969 cha ông T có cho bà Nguyễn Thị C trồng 04 cây dừa trên vùng đất trồng dương của gia đình, mục đích chỉ ăn quả, không cho đất, hiện nay còn sống 03 cây.

    Việc ông T5 tranh chấp đã ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của ông T, cụ thể ông T không thể làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được, hạn chế trong việc canh tác, sử dụng đất. Do đó, nay ông Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng diện tích đất tranh chấp 1.532,1m², buộc ông T5 phải chặt bỏ số cây dừa trên đất.

    Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T7 (Vợ ông T) thống nhất theo trình bày của ông T nêu trên;

    Đại diện theo ủy quyền của bị đơn và ông Phạm Văn T5 thống nhất trình bày:

    Nguồn gốc diện tích đất 2.505m² (Đo đạc thực tế 2.148,2m²) ông T đang tranh chấp là của bà Phạm Thị G (mẹ ông T5) nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị C vào năm 1977, khi nhận chuyển nhượng thì trên đất có 22 cây dừa, thời điểm sau đó cha mẹ ông T5 trồng tăng gia khoai lang, sắn mì. Năm 1980, cha ông T5 chết, mẹ ông vẫn quản lý khu đất này. Năm 1980 – 1981, ông T lợi dụng mẹ ông T5 già yếu, ông T5 đi nghĩa vụ quân sự nên đã đem dương trồng lấn chiếm vườn dừa của gia đình ông, khi bà G còn sống có nhiều lần yêu cầu ông T phá bỏ toàn bộ dương trồng trên đất nhưng ông T không đồng ý.

    Đến năm 1982, ông T5 xuất ngũ về địa phương tranh chấp với ông T, từ năm 1985 đến năm 1989 ông T5 đã nhiều lần yêu cầu UBND xã A giải quyết việc ông T lấn chiếm đất nhưng không thành; Việc bà Nguyễn Thị C bán cây dừa gắn liền với quyền sử dụng đất có xác nhận của ông Phạm Đình T8 (con ruột bà C).

    Từ những căn cứ nêu trên, ông T5 không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngược lại, ông T5 có yêu cầu phản tố: Buộc ông T phải chặt bỏ dương trả lại nguyên trạng quyền sử dụng đất 1.532,1m² cho ông T5, yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng diện tích đất 1.532,1m² thuộc quyền sử dụng của ông.

    Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H (Vợ ông T5) thống nhất theo trình bày của ông T5 nêu trên.

  3. Về phần tranh chấp với bị đơn ông Đặng Văn T2:
  4. Theo tài liệu tại hồ sơ và lời trình bày tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

    Diện tích đất 2.505m² (Đo đạc thực tế 2.148,2m²) thuộc thửa đất số 10, tờ bản đồ số 8, có mục đích sử dụng là BHK do cha ông Nguyễn Văn T là ông Nguyễn Văn T6 khai hoang từ năm 1962 và trồng dương sử dụng liên tục. Đến năm 1978, ông Tam C1, diện tích đất này ông T quản lý, sử dụng cho đến nay, không ai tranh chấp. Phía Tây diện tích đất này giáp với đất thuộc quyền sử dụng của ông Đặng Văn T2, quá trình sử dụng ông T2 lấn chiếm cất nhà ở cho con ông là Đặng Quốc K1; trước năm 2009 ranh giới phân định đất là hàng rào bàn chải, tuy nhiên quá trình sử dụng ông T2 đã phá bàn chải làm lại hàng rào tạm bằng lưới B40 tiếp tục lấn chiếm sang đất thuộc quyền sử dụng của ông T 53,9m² trồng cây ăn quả và chiếm một phần đất làm lối đi 19,4m². Do đó, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T yêu cầu ông Đặng Văn T2 trả lại nguyên trạng các diện tích đất lấn chiếm nêu trên. Đối với diện tích đất 311,8m² ông T2 cất nhà ở cho con ông tên Đặng Quốc K1 nguyên đơn không yêu cầu gì.

    Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T7 (Vợ ông T) thống nhất theo trình bày của ông T nêu trên.

    Bị đơn ông Đặng Văn T2 trình bày:

    Diện tích đất hiện nay Đặng Quốc K1 sử dụng cất nhà ở trước đây có nguồn gốc của ông T2 khai hoang từ trước giải phóng; ông T2 tạm giao cho vợ chồng ông Đặng Quốc K1 một phần đất này vào năm 2008 để cất nhà ở, phần còn lại giáp với diện tích đang xảy ra tranh chấp giữa ông T và ông T5 là đất của ông T2 lấn chiếm trên đất của vợ chồng bà Nguyễn Thị C. Ranh giới phân định đất thuộc quyền sử dụng của ông T2 và quyền sử dụng đất của ông T đang sử dụng trồng dương là hàng lưới B40, do ông T2 làm tạm thời vào đầu năm 2020. Ông Nguyễn Văn T cho rằng diện tích đất 53,9m² ông T2 lấn chiếm sang đất ông là không đúng; Đối với lối đi 19,4m² trước đây cũng là đất thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông Phạm Đình T9 (chết), bà Nguyễn Thị C (kể cả diện tích đất ông T trồng dương và đang có tranh chấp với T5 cũng là đất có nguồn gốc của vợ chồng ông Phạm Đình T9), ông T2 lấn chiếm mở lối đi này sử dụng từ trước giải phóng đến nay, ngoài lối đi này không còn lối đi nào khác. Do đó, ông T2 không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phạm Văn T5.

    Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H1 (Vợ ông T2) thống nhất theo trình bày của ông T2) nêu trên.

    Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vợ chồng ông Đặng Quốc K1 và bà Phạm Thị Kim Q trình bày:

    Diện tích vợ chồng ông K1 đang có nhà ở là đất do ông Đặng Văn T2 tạm thời cho vợ chồng ông K1 cất nhà ở vào năm 2009, chưa có thủ tục pháp lý tặng cho theo qui định. Do đó, quyền sử dụng diện tích đất này vẫn thuộc quyền sử dụng của ông Đặng Văn T2, kể cả diện tích 53,9m² và 19,4m² đang tranh chấp. Tuy nhiên, nay việc giải quyết tranh chấp đất giữa ông T và ông T2 có liên quan đến lối đi 19,4m² vợ chồng ông K1 trực tiếp sử dụng nên yêu cầu Tòa công nhận quyền sử dụng lối đi nêu trên thuộc quyền sử dụng chung.

    Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Phạm Văn T5 bày:

    Phần đất tranh chấp 53,9m² và phần lối đi 19,4m² giữa ông Đặng Văn T10 và ông Đặng Văn T2 nằm trong diện tích đất thuộc quyền sử dụng của ông Phạm Văn T5. Do đó, ông T5 yêu cầu ông T2 trả lại nguyên trạng quyền sử dụng các diện tích đất nêu trên cho ông T5 và yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất.

    Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H thống nhất theo trình bày của ông Phạm Văn T5 nêu trên;

    Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, UBND xã A, huyện T trình bày:

    Diện tích đất tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn T và các bị đơn Đặng Văn T2, Phạm Văn T5 nằm trong thửa đất số 10, tờ bản đồ số 8, bản đồ Semla đo đạc năm 2007, có diện tích 2.505m² hiện nay do ông Nguyễn Văn T trực tiếp sử dụng; qua kết luận của Hội đồng tư vấn giải quyết khiếu nại tranh chấp đất đai của xã A thì xác định nguồn gốc đất trước đây của cha mẹ ông Nguyễn Văn T để lại; trên đất có dương đang tồn tại thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn T.

    Tiếp giáp với lối đi phục vụ cho nhà ông Đặng Quốc K1 đang tranh chấp về phía Nam là khoản đất trống, lâu nay phục vụ làm lối đi chung công cộng do UBND xã quản lý, khoản đất trống này đến này đến nay chưa đăng ký quyền sử dụng của ai, nằm ngoài thửa đất số 10.

    Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, UBND huyện T trình bày:

    Diện tích đất tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn T và các bị đơn Đặng Văn T2, Phạm Văn T5 nằm trong thửa đất số 10, tờ bản đồ số 8, bản đồ Semla đo đạc năm 2007, có diện tích theo sơ đồ 2.505m² hiện nay do ông Nguyễn Văn T trực tiếp sử dụng; qua kết luận của Hội đồng tư vấn giải quyết khiếu nại tranh chấp đất đai xã A thì xác định nguồn gốc đất trước đây của cha mẹ ông Nguyễn Văn T để lại; trên đất có dương đang tồn tại thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn T. Diện tích đất thửa số 10 nêu trên đủ điều kiện cấp quyền sử dụng đất cho cá nhân, tổ chức, việc UBND huyện chưa cấp quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên là do đất tranh chấp và chưa có ai đăng ký cấp đất. Tại Quyết định số 575/QĐ-CT ngày 10/5/2016 và Quyết định 1675/QĐ-CT ngày 31/7/2017 đã giải quyết tranh chấp, tuy nhiên do việc giải quyết sai về thẩm quyền nên UBND huyện đã rút lại toàn bộ các quyết định. Do đó, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên xem xét nội dung các quyết định để giải quyết vụ án theo qui định của pháp luật.

    Tiếp giáp với lối đi phục vụ cho nhà ông Đặng Quốc K1 đang tranh chấp về phía Nam là khoản đất trống, lâu nay phục vụ làm lối đi chung công cộng, khoản đất trống này đến nay chưa đăng ký quyền sử dụng của ai, nằm ngoài thửa đất số 10. Lối đi ông Đặng Quốc K1 đang sử dụng phù hợp đề nghị giữ nguyên hiện trạng làm lối đi chung.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

    Tất cả các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đều thể hiện nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn T, trên đất hiện tồn tại dương do ông T trồng từ những năm 1960. Đề nghị Tòa án công nhận diện tích đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn T.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Phạm Văn T5 trình bày:

    Kết quả xét hỏi công khai và tài liệu tại hồ sơ vụ án có đủ căn cứ để xác định nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp là của bà bà Phạm Thị G (mẹ ông T5) nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị C vào năm 1977, bà G giao lại cho ông T5 quyền sử dụng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu của nguyên đơn, công nhận cho ông T5 được quyền sử dụng các diện tích đất ông T tranh chấp.

    Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 28 tháng 03 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy An quyết định:

    Áp dụng điều 176, 263, 264 Bộ luật dân sự 1995; Điều 166 Bộ luật dân sự 2015; Điều 49, 50 Luật đất đai 2003; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án;

    Tuyên xử:

    1. Về yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với bị đơn ông Phạm Văn T5 và yêu cầu phản tố của ông Phạm Văn T5 về diện tích đất 1532,1m²:
    2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T đối với bị đơn Phạm Văn T5. Công nhận diện tích đất 1532,1m² tại giải thửa số thửa đất số 10, tờ bản đồ số 08, bản đồ semla (đo đạc năm 2007), toạ lạc tại thôn X, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn T ( Cụ thể vị trí, giới cận, chiều dài các cạnh của diện tích đất 1532,1m²nêu trên được ký hiệu tại DT2 và DT3 theo bản đồ đo đạc do Công ty TNHH K2 thực hiện ngày 07/11/2023 kèm theo);

      Ông Nguyễn Văn T được quyền sở hữu 02 cây dừa có trái gắn liền trên diện tích đất 1532,1m² nêu trên, có trách nhiệm thanh toán giá trị sở hữu = 1.200.000đ cho ông Phạm Văn T5.

      Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phạm Văn T5 về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T phải trả lại quyền sử dụng đất 1.532,1m²nêu trên.

    3. Về yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với bị đơn ông Đặng Văn T2 và yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn T5 về diện tích đất 73,3m²:
    4. [2.1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T đối với bị đơn Đặng Văn T2 về diện tích đất 53,9m². Công nhận diện tích đất 53,9m² tại giải thửa số thửa đất số 10, tờ bản đồ số 08, bản đồ semla (đo đạc năm 2007), toạ lạc tại thôn X, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn T ( Cụ thể vị trí, giới cận, chiều dài các cạnh của diện tích đất 53,9m²nêu trên được ký hiệu tại DT4 theo bản đồ đo đạc do Công ty TNHH K2 thực hiện ngày 07/11/2023 kèm theo);

      Ông Nguyễn Văn T được quyền sở hữu 05 cây mãng cầu, 01 cây ổi gắn liền trên diện tích đất 53,9m² nêu trên, có trách nhiệm thanh toán giá trị sở hữu = 850.000đ cho ông Đặng Văn T2.

      Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn T5 về việc yêu cầu ông Đặng Văn T2 phải trả lại quyền sử dụng đất 53,9m² nêu trên.

      [2.2] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T đối với bị đơn Đặng Văn T2 đối với diện tích đất 19,4m². Công nhận diện tích đất 19,4m² tại giải thửa số thửa đất số 10, tờ bản đồ số 08, bản đồ semla (đo đạc năm 2007), toạ lạc tại thôn X, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên theo hiện trạng sử dụng làm lối đi chung của gia đình ông Nguyễn Văn T, gia đình ông Đặng Văn T2 và gia đình ông Đặng Quốc K1 ( Cụ thể vị trí, giới cận, chiều dài các cạnh của diện tích đất 19,4m²nêu trên được ký hiệu tại DT5 theo bản đồ đo đạc do Công ty TNHH K2 thực hiện ngày 07/11/2023 kèm theo);

      Ông Nguyễn Văn T được quyền sở hữu 01 cây dừa có trái gắn liền trên diện tích đất 19,4m² nêu trên, có trách nhiệm thanh toán giá trị sở hữu = 600.000đ cho ông Phạm Văn T5.

      Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn T5 về việc yêu cầu ông Đặng Văn T2 phải trả lại quyền sử dụng đất 19,4m²nêu trên.

    Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo.

    Ngày 05/4/2024 nguyên đơn Nguyễn Văn T kháng cáo, ngày 10/4/2024 bị đơn Đặng Văn T2 kháng cáo và ngày 04/4/2024 bị đơn Phạm Văn T5 kháng cáo. Nội dung kháng cáo:

    • Ông Nguyễn Văn T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đối với phần diện tích lối đi 19,4 m², yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm công nhận diện tích đất này cho ông T.
    • Ông Phạm Xuân T3 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
    • Ông Đặng Văn T2 kháng cáo phần nội dung đối với diện tích đất 53,9m² của gia đình ông, không phải đất của ông T khai hoang; Kháng cáo phần cây trồng trên diện tích đất 53,9m² hơn 100 cây ăn trái, không phải 5 cây như bản án sơ thẩm đã tuyên; Đồng thời kháng cáo về chi phí đo đạc, định giá, ông T2 cho rằng do ông T, ông T5 yêu cầu đo đạc nên phải chịu, ông T2 không yêu cầu nên không đồng ý chịu các chi phí này.

    Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự giữ nguyên quan điểm trình bày.

    Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự đã thực đầy đủ các quyền của mình theo quy định pháp luật. Về nội dung: Đề nghị HĐXX sửa án sơ thẩm: bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận diện tích 1.532,1m² tại thửa đất số 10, TBĐ số 8 tọa lạc tại thôn X, xã A, huyện T, Phú Yên thuộc quyền sử dụng của bị đơn Phạm Xuân T3. Các nội dung còn lại y án sơ thẩm. Đình chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn do rút yêu cầu kháng cáo đối với tranh chấp lối đi với ông Đặng Văn T2.

    NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

    Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

    [1] Về tố tụng:

    [1.1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo còn trong thời hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên đủ điều kiện để thụ lý, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

    [1.2] Về quan hệ pháp luật giải quyết tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

    Các bên đương sự tranh chấp với nhau quyền sử dụng đất, có yêu cầu “Đòi lại quyền sử dụng đất” và “Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất”. Do đó, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là hoàn toàn có căn cứ.

    [2] Về nội dung kháng cáo: Trong vụ án này, Nguyên đơn, Bị đơn và Bị đơn có yêu cầu độc lập, yêu cầu phản tố đều có kháng cáo, trong đó ông Phạm Văn T5 có yêu cầu kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự quy định về “ Phạm vi xét xử phúc thẩm” để xem xét toàn bộ các yêu cầu của các đương sự có tranh chấp.

    [2.1] Về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T đối với Bị đơn ông Phạm Văn T5 và yêu cầu phản tố của Bị đơn ông Phạm Văn T5:

    [2.1.1] Diện tích đất đang tranh chấp giữa các bên thuộc thửa số 10, tờ bản đồ số 8, địa chỉ tại thôn X, xã A, huyện T; đo đạc thực tế: 2.148,2m², trong đó xác định phần tranh chấp giữa ông T và ông T5 có diện tích 1.532,1m² (Theo Bản vẽ ngày 07/11/2023, có ký hiệu DT2, diện tích 1.188,5m² và DT3, diện tích 343,6 m²). Trên đất đang tồn tại cây dương của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và cây dừa của bị đơn ông Phạm Văn T5. Quá trình giải quyết các bên đương sự không cung cấp được giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất của cơ quan có thẩm quyền đã cấp cho mình.

    [2.1.2] Theo tài liệu chứng cứ và xác nhận của UBND xã A, UBND huyện T thì diện tích tranh chấp nằm trong thửa đất số 10, tờ bản đồ số 8 (Bản đồ Semla đo đạc năm 2007), mục đích sử dụng đất HNK, hiện nay chưa cấp quyền sử dụng cho ai.

    [2.1.3] Xét lời khai những người làm chứng cao tuổi sống tại địa phương như ông Ngô Văn D1, sinh năm 1947, ông Trần Văn N, sinh năm 1938 và lời khai ông Đặng Văn T2 là bị đơn trong vụ án này đều xác định: Vị trí diện tích đất tranh chấp giữa ông T và ông T5 có nguồn gốc sử dụng trước đây là của vợ chồng ông Phạm Đình T9 và bà Nguyễn Thị C, vợ chồng bà C trồng dừa trên đất từ những năm 1950. Sau này gia đình ông Nguyễn Văn T chiếm đất trồng cây dương; Ông Ngô Văn D1 còn xác định khi bà C không còn sống ở địa phương thì đến năm 1979 ông Nguyễn Văn T đem dương đến trồng. Lời khai của những người làm chứng nêu trên phù hợp với lời khai của ông Phạm Đình T8 là con ruột của bà Nguyễn Thị C, phù hợp với lời trình bày của ông Phạm Văn T5. Cấp sơ thẩm nhận định: Có đủ cơ sở để xác định nguồn gốc sử dụng đất của vợ chồng ông Phạm Đình T9, bà Nguyễn Thị C, không phải của cha ông Nguyễn Văn T khai hoang như ông Nguyễn Văn T trình bày là hoàn toàn chính xác và có căn cứ.

    [2.1.4] Tại cấp sơ thẩm, bị đơn ông Phạm Văn T5 cung cấp 02 “giấy bán dừa cây” được lập vào ngày 16/6/1977 để chứng minh việc bà Nguyễn Thị C đã chuyển quyền sử dụng diện tích đất. Xét thấy: Tuy tài liệu chỉ thể hiện việc bán dừa cây, nhưng có ghi giới cận Đ1, T11, N1, B. Đây là tài sản gắn liền với đất; tại thời kỳ đó, Nhà nước không thừa nhận việc mua bán đất đai nên các chủ thể trong giao dịch này chỉ ghi nhận việc bán dừa cây là hoàn toàn hợp lý. Lời khai của ông Phạm Đình T8 (con ruột bà Nguyễn Thị C) xác nhận: Năm 1977, khi bà C còn sống đã cùng ông đã bán số cây dừa, đồng thời chuyển nhượng luôn cả quyền sử dụng đất cho bà Phạm Thị G và xác nhận vị trí đất chuyển nhượng cho bà G trước đây đúng với vị trí đất tranh chấp giữa ông T và ông T5 hiện nay. Do đó, có căn cứ để xác định số cây dừa tồn tại hiện nay gắn liền với quyền sử dụng diện tích đất tranh chấp do bà Nguyễn Thị C đã chuyển giao quyền sở hữu, sử dụng từ năm 1977.

    [2.1.5] Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn T và ông Phạm Văn T5 đều thừa nhận việc tranh chấp đất đã xảy ra từ những năm 1985 đến năm 1989, được UBND xã A giải quyết, năm 2016 được UBND huyện T giải quyết. Cấp sơ thẩm cho rằng: do trên đất có dương của ông T trồng và việc ông T5 không tiếp tục tranh chấp từ năm 2016 đến nay nên ông Nguyễn Văn T đủ điều kiện để xác lập quyền sử dụng theo qui định của pháp luật. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm đã không chỉ ra quy định nào là thiếu căn cứ, không thuyết phục.

    Từ những chứng cứ phân tích đánh giá ở M [2.1] nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo, yêu cầu phản tố của Bị đơn ông Phạm Xuân T3; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T; sửa Bản án sơ thẩm: Công nhận diện tích đất tranh chấp 1.532,1m² thuộc quyền sử dụng của ông Phạm Văn T5; Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn T phải giao trả diện tích đất 1.532,1m² và toàn bộ các loại cây trồng trên đất cho ông Phạm Văn T5. Buộc ông Phạm Văn T5 thanh toán lại cho ông Nguyễn Văn T 89 cây dương mà ông T đã trồng, theo Biên bản định giá ngày 07/11/2023 là 4.094.000 đồng.

    [2.2] Về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T đối với Bị đơn ông Đặng Văn T2, trong đó có yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn T5:

    [2.2.1] Qua đo đạc thực tế, diện tích thửa đất số 10, tờ bản đồ số 8 có diện tích 2.148,2m², trong đó xác định phần đất các bên tranh chấp có diện tích 73,3m²; (trong đó có diện tích đất làm lối đi DT5 = 19,4m², diện tích DT4 = 53,9m²); cả ông T và ông T5 đều yêu cầu ông T2 trả lại; trên đất tranh chấp tại vị trí DT4 đang tồn tại cây ăn quả của bị đơn ông Đặng Văn T2 trồng. Quá trình giải quyết các bên đương sự không cung cấp được giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất của cơ quan có thẩm quyền. Theo xác nhận của UBND xã A và UBND huyện T thì diện tích tranh chấp nằm trong thửa đất số 10, tờ bản đồ số 8 (Bản đồ Semla đo đạc năm 2007), hiện nay chưa cấp quyền sử dụng cho ai.

    [2.2.2] Tại cấp sơ thẩm ông Đặng Văn T2 cho rằng các diện tích tranh chấp do chính ông lấn chiếm trên đất thuộc quyền sử dụng có nguồn gốc của vợ chồng ông Phạm Đình T9 bà Nguyễn Thị C từ năm 1966. Tuy nhiên tại bản đồ Semla đo đạc năm 2007 ghi nhận diện tích tranh chấp 73,3m² và diện tích ông T2 cho ông Đặng Quốc K1 xây dựng nhà ở hiện nay đều nằm trong thửa số 10, tờ bản đồ số 8. Nên việc ông T2 lấn chiếm đất này là trái pháp luật.

    [2.2.3] Do đó, cùng với những chứng cứ được nhận định, đánh giá tại Mục [2.1] phần tranh chấp giữa ông T và ông T5, Hội đồng xét xử xác định diện tích đất tranh chấp 53,9m² (DT4) nằm trong tổng diện tích thửa đất số 10, tờ bản đồ số 8, ông Đặng Văn T2 lấn chiếm đất thuộc quyền sử dụng của ông Phạm Văn T5.

    [2.2.4] Vì các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo và yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn T5; sửa Bản án sơ thẩm: Buộc bị đơn ông Đặng Văn T2 trả lại diện tích đất 53,9m² tại vị trí DT4 theo bản đồ đo vẽ. Trên đất có tài sản là cây trồng của ông Đặng Văn T2, theo Biên bản định giá ngày 07/11/2023, gồm có 07 cây dừa trị giá 350.000 đồng, 05 cây mãng cầu trị giá 400.000 đồng, 01 cây ổi trị giá 100.000 đồng; tổng cộng 850.000 đồng; cần giao số cây trồng này lại cho ông T5 sở hữu, buộc T5 thanh toán lại cho ông T2 850.000 đồng.

    [2.2.5] Sửa Bản án sơ thẩm: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T về việc buộc bị đơn ông Đặng Văn T2 trả lại diện tích đất 53,9m² tại vị trí DT4 theo Bản đồ đo vẽ ngày 07/11/2023.

    [2.2.6] Không chấp nhận kháng cáo của ông Đặng Văn T2 về việc công nhận diện tích đất 53,9m² tại vị trí DT4 theo Bản đồ đo vẽ ngày 07/11/2023 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông.

    [2.2.7] Đối với kháng cáo của ông Đặng Văn T2 về việc trên diện tích đất 53,9m² có hơn 100 cây ăn trái, không phải 5 cây như bản án sơ thẩm đã tuyên. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Biên bản định giá ngày 07/11/2023 của cấp sơ thẩm có sự tham gia của ông Đặng Văn T2, ông T2 đã thống nhất ghi nhận về phần cây trồng trên đất của mình. Tại Biên bản xem xét tại chỗ ngày 05/9/2024 của cấp phúc thẩm, có sự tham gia của ông Đặng Sơn K, người đại diện theo ủy quyền của ông T2, thể hiện “Diện tích đất tranh chấp và tài sản trên đất không có gì thay đổi so với Biên bản định giá ngày 07/11/2023 và Bản trích đo địa chính do cấp sơ thẩm thực hiện”. Nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của ông Đặng Văn T2.

    [2.2.8] Đối với kháng cáo của ông Đặng Văn T2 về chi phí đo đạc, định giá, ông T2 cho rằng do ông T, ông T5 yêu cầu đo đạc nên phải chịu, ông T2 không yêu cầu nên không chịu các chi phí này. Về chi phí định giá, xem xét tại chỗ và đo đạc cấp sơ thẩm đã buộc các đương sự chịu là đúng quy định tại Điều 157; 158 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, việc không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn sẽ làm thay đổi về số tiền mỗi đương sự phải chịu nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá ở phần chi phí tố tụng. Vì vậy, có căn cứ để chấp nhận 1 phần yêu cầu kháng cáo này của ông Đặng Văn T2.

    [2.2.9] Đối với diện tích 19,4m², ông Đặng Văn T2 lấn chiếm làm lối đi, hiện vợ chồng Đặng Quốc K1 đang cùng sử dụng, có căn cứ để chứng minh quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn T5 như những nhận định và đánh giá chứng cứ ở Mục [2.1] và [2.2.3]. Tuy nhiên, đây là lối đi duy nhất nhà ông Đặng Quốc K1 đến đường công cộng, đã tồn tại trong thời gian dài, Ủy ban nhân dân huyện T đã có ý kiến: Lối đi nhà ông K1 là phù hợp đề nghị giữ nguyên trạng để làm lối đi chung. Vì vậy, cấp sơ thẩm công nhận diện tích đất 19,4m² này làm lối đi chung là có căn cứ, phù hợp với ý kiến của chính quyền địa phương nên cấp phúc thẩm giữ nguyên phần quyết định này của Bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T và ông Đặng Văn T2. Tại cấp phúc thẩm, ông T5 rút kháng cáo, rút yêu cầu khởi kiện, không tranh chấp phần đất này. Tuy nhiên, các ông T2 và T vẫn tiếp tục tranh chấp nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không chấp nhận việc rút yêu cầu này của ông T5 mà vẫn tiến hành xét xử theo quy định chung và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của ông T5 về việc buộc ông T2 trả lại diện tích đất 19,4m². Đối với cây 01 cây dừa trên đất, cấp sơ thẩm xác định là tài sản của ông T5 là có căn cứ, tuy nhiên do cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, công nhận phần đất có diện tích 1.532,1m² (DT2 và DT3) thuộc quyền sử dụng của ông Phạm Văn T5 nên lối đi chung này cũng dành cho gia đình ông T5. Vì vậy, không cần phải buộc đương sự khác thanh toán giá trị cây dừa lại cho ông T5.

    [2.3] Đối với diện tích đất 311,8m² (ký hiệu DT6 trên bản đồ đo vẽ) gắn với ngôi nhà của vợ chồng ông Đặng Quốc K1 do ông Đặng Văn T2 và vợ chồng ông Đặng Quốc K1 đang sử dụng, quá trình giải quyết, đo vẽ các đương sự không tranh chấp nên cấp sơ thẩm không giải quyết là có căn cứ.

    [2.4] Đối với diện tích 231,0m² (ký hiệu DT1 trên bản đồ đo vẽ) có vị trí cùng trong thửa số 10, tờ bản đồ số 8, ông Phạm Văn T5 đang sử dụng. Quá trình giải quyết các đương sự không có tranh chấp nên cấp sơ thẩm không giải quyết là có căn cứ.

    [3] Về chi phí tố tụng: Tại cấp sơ thẩm là 23.000.000 đồng, tại cấp phúc thẩm là 2.500.000 đồng. Tổng cộng là 25.500.000 đồng. Các yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn đều không được chấp nhận, ý kiến của Bị đơn Đặng Văn T2 về việc đề nghị công nhận diện tích đất 53,9m² tại vị trí DT4 không được Tòa chấp nhận nên ông T và ông T2 đều phải chịu chi phí tố tụng trong đó phần của ông T là 9/10; phần của ông T2 là 1/10. Ông T đã nộp tạm ứng nên buộc ông T2 hoàn trả cho ông T.

    [4] Về án phí:

    [4.1] Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện Bị đơn ông Phạm Văn T5 không được chấp nhận; 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện Bị đơn ông Đặng Văn T2 không được chấp nhận và phải chịu án phí phúc thẩm 300.000 đồng; tổng cộng là 900.000 đồng. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0011850 ngày 06/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy An; 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 00011853 ngày 06/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy An và 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0010699 ngày 07/05/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy An.

    [4.2] Bị đơn có yêu cầu độc lập ông Phạm Văn T5 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch đối với phần yêu cầu khởi kiện Bị đơn ông Đặng Văn T2 không được chấp nhận; 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với phần nghĩa vụ thanh toán lại giá trị cây dương cho Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với phần nghĩa vụ thanh toán lại giá trị cây trồng cho Bị đơn ông Đặng Văn T2; tổng cộng là 900.000 đồng. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0005573 ngày 19/07/2022 và 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0010683 ngày 15/04/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy An; còn phải nộp 300.000 đồng.

    [4.3] Bị đơn ông Đặng Văn T2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch do 1 phần yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn T5 được chấp nhận. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0000001 ngày 07/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy An.

    [4.4] Các Bị đơn ông Phạm Văn T5 và ông Đặng Văn T2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

    QUYẾT ĐỊNH:

    Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

    Áp dụng các điều 176, 263, 264 Bộ luật dân sự 1995; Điều 166 Bộ luật dân sự 2015; Điều 49, 50 Luật đất đai 2003; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án;

    Tuyên xử:

    1. Về yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với bị đơn ông Phạm Văn T5 và yêu cầu phản tố của ông Phạm Văn T5 đối với diện tích đất 1.532,1m² (được ký hiệu trên Bản vẽ đo đạc ngày 07/11/2023 là DT2 và DT3).
      1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T đối với Bị đơn Phạm Văn T5 về việc: Công nhận diện tích đất 1.532,1m² thuộc thửa đất số 10, tờ bản đồ số 08 (Bản đồ semla đo đạc năm 2007), tại địa chỉ thôn X, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn T (Cụ thể vị trí, giới cận, chiều dài các cạnh của diện tích đất 1.532,1m² nêu trên được ký hiệu tại DT2 và DT3 theo Bản đồ đo đạc do Công ty TNHH K2 thực hiện ngày 07/11/2023 kèm theo).
      2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của Bị đơn ông Phạm Văn T5. Buộc Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T phải trả lại quyền sử dụng đất 1.532,1m² thuộc thửa đất số 10, tờ bản đồ số 08 (Bản đồ semla đo đạc năm 2007) và toàn bộ các loại cây trồng trên đất tại địa chỉ thôn X, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên cho ông Phạm Văn T5 (Cụ thể vị trí, giới cận, chiều dài các cạnh của diện tích đất 1.532,1m² nêu trên được ký hiệu tại DT2 và DT3 theo Bản đồ đo đạc do Công ty TNHH K2 thực hiện ngày 07/11/2023 kèm theo).
      3. Buộc ông Phạm Văn T5 thanh toán lại cho ông Nguyễn Văn T 89 cây dương mà ông T đã trồng, theo Biên bản định giá ngày 07/11/2023 là 4.094.000 đồng.
    2. Về yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với bị đơn ông Đặng Văn T2 và yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn T5 đối với diện tích đất 53,9m² (được ký hiệu trên Bản vẽ đo đạc ngày 07/11/2023 là DT4).
      1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T đối với bị đơn Đặng Văn T2 về việc đòi lại diện tích đất 53,9m² (DT4).
      2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Bị đơn ông Phạm Văn T5 đối với Bị đơn ông Đặng Văn T2. Buộc ông Đặng Văn T2 phải giao trả diện tích đất 53,9m² (DT4), thuộc thửa đất số 10, tờ bản đồ số 08 (Bản đồ semla đo đạc năm 2007) và toàn bộ cây trồng trên đất, tại địa chỉ thôn X, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên cho ông Phạm Văn T5 (Cụ thể vị trí, giới cận, chiều dài các cạnh của diện tích đất 53,9m² nêu trên được ký hiệu tại DT4 theo Bản đồ đo đạc do Công ty TNHH K2 thực hiện ngày 07/11/2023 kèm theo).
      3. Buộc ông Phạm Văn T5 thanh toán cho ông Đặng Văn T2 07 cây dừa trị giá 350.000 đồng, 05 cây mãng cầu trị giá 400.000 đồng, 01 cây ổi trị giá 100.000 đồng; tổng cộng 850.000 đồng; theo Biên bản định giá ngày 07/11/2023.
    3. Về yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với bị đơn ông Đặng Văn T2 và yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn T5 đối với diện tích đất 19,4m² (được ký hiệu trên Bản vẽ đo đạc ngày 07/11/2023 là DT5).
      1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T đối với Bị đơn Đặng Văn T2 về việc đòi lại diện tích đất 19,4m² (DT5).
      2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn T5 về việc yêu cầu ông Đặng Văn T2 phải trả lại quyền sử dụng đất 19,4m² (DT5).
      3. Xác định diện tích đất 19,4m² (DT5) tại thửa đất số 10, tờ bản đồ số 08, (Bản đồ semla đo đạc năm 2007), toạ lạc tại thôn X, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên theo hiện trạng sử dụng làm lối đi chung của gia đình ông Phạm Văn T5, gia đình ông Đặng Văn T2 và gia đình ông Đặng Quốc K1 (Cụ thể vị trí, giới cận, chiều dài các cạnh của diện tích đất 19,4m² nêu trên được ký hiệu tại DT5 theo bản đồ đo đạc do Công ty TNHH K2 thực hiện ngày 07/11/2023 kèm theo).
    4. Ông Phạm Văn T5 có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp nội dung phần Quyết định của Bản án này.
    5. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
    6. Về án phí:
      1. Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện Bị đơn ông Phạm Văn T5 không được chấp nhận; 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện Bị đơn ông Đặng Văn T2 không được chấp nhận và phải chịu án phí phúc thẩm 300.000 đồng; tổng cộng là 900.000 đồng. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0011850 ngày 06/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy An; 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 00011853 ngày 06/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy An và 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0010699 ngày 07/05/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy An.
      2. Bị đơn có yêu cầu độc lập ông Phạm Văn T5 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch đối với phần yêu cầu khởi kiện Bị đơn ông Đặng Văn T2 không được chấp nhận; 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với phần nghĩa vụ thanh toán lại giá trị cây dương cho Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với phần nghĩa vụ thanh toán lại giá trị cây trồng cho Bị đơn ông Đặng Văn T2; tổng cộng là 900.000 đồng. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0005573 ngày 19/07/2022 và 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0010683 ngày 15/04/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy An; còn phải nộp 300.000 đồng.
      3. Bị đơn ông Đặng Văn T2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch do 1 phần yêu cầu độc lập của ông Phạm Văn T5 được chấp nhận. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0000001 ngày 07/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy An.
      4. Các Bị đơn ông Phạm Văn T5 và ông Đặng Văn T2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
    7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7a; 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

    Nơi nhận:

    • - TANDCC tại Đà Nẵng;
    • - TAND huyện Tuy An;
    • - Đương sự;
    • - Chi cục THADS huyện Tuy An;
    • - P.TTNV&THA;
    • - VKSND tỉnh Phú Yên;
    • - Lưu HSVA.

    TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

    THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

    Lê Trúc Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/DS-PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 76/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sừ dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger