|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 76/2023/HS-ST Ngày 24 - 10 - 2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Chung
Ông Nguyễn Tiến Chỉnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Bích - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên;
Ngày 24 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QĐXXST-HS ngày 09/10/2023 đối với bị cáo:
Đào Văn T, sinh năm 1991 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn S và bà Tống Thị N; có vợ là Trịnh Thị T1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2023 đến nay; hiện tại bị cáo đang bị tạm giam, có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Văn Q, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt
* Người làm chứng: Vũ Quang N1, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn D, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 00 phút ngày 26/6/2023, tại khu vực đường liên thôn thuộc địa phận thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; lực lượng Cảnh sát phòng chống ma túy Công an huyện L bắt quả tang Đào Văn T về hành vi bán trái phép chất ma túy cho đối tượng Phạm Văn Q. Vật chứng thu giữ gồm:
- Thu trên bàn tay trái của Phạm Văn Q một đoạn giấy vệ sinh màu trắng, được cuộn tròn, bên trong có 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Tất cả được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT1";
- T2 trong túi quần bên phải phía trước của Đào Văn T đang mặc 01 túi nilon màu đen, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, bên trong đựng 08 túi nilon màu trắng một đầu đều có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh (trong đó 07 túi nilon đựng chất tinh thể màu trắng, 01 túi nilon đựng 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ (đều nghi là ma túy) và 01 đoạn ống hút nhựa một đầu cắt vát chéo màu hồng bên trong không đựng gì. Tất cả được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT2”;
- T2 trong túi áo bên phải phía trước của Đào Văn T đang mặc 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT3";
- Thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu trắng, số IMEI: 352031065072141 của Đào Văn T, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT4”.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám xét nơi ở của Đào Văn T. Kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tiến hành kiểm tra việc sử dụng ma túy (test nhanh nước tiểu) đối với Đào Văn T, Phạm Văn Q. Kết quả kiểm tra T, Q đều âm tính với chất ma túy.
Kiểm tra điện thoại Iphone 5s màu trắng của Đào Văn T lắp sim số 0969370004 ghi nhận: Hồi 08 giờ 01 phút ngày 26/6/2023 phát sinh 01 cuộc gọi đến từ số máy 0962268643, thời lượng 02 phút. Đào Văn T khai nhận số điện thoại gọi đến là của Phạm Văn Q, nội dung gọi đến hỏi mua ma túy.
Ngày 26/6/2023, Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định đối với mẫu vật nghi là chất ma túy thu giữ khi bắt quả tang Đào Văn T.
Tại bản kết luận giám định số 1189/ KL-KTHS ngày 29/6/2023, Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Trong 01 phong bì ký hiệu "QT1" đã được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là ma túy có khối lượng 0,036 gam loại Methamphetamine.
- Trong 01 phong bì ký hiệu "QT2" đã được niêm phong gửi giám định, bên trong là 01 túi nilon màu đen, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa:
+ Chất tinh thể màu trắng đựng trong 07 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là ma túy, có tổng khối lượng 1,115 gam, loại Methamphetamine.
+ 01 viên nén màu hồng đỏ, đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là ma túy, có khối lượng 0,096 gam, loại Methamphetamine.
Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định dấu vết đường vân đối vật chứng đựng ma túy đã thu giữ được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT2” và tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT3”. Tại kết luận giám định số 1246/KL-KTHS ngày 06/7/2023, Phòng K Công an tỉnh B kết luận không phát hiện dấu vết đường vân trên các mẫu vật gửi giám định.
Quá trình điều tra Đào Văn T khai nhận: Do có nhu cầu thức đêm để trông trang trại chim bồ câu nên tối ngày 20/6/2023, T một mình đi xuống khu vực đầu cầu C thuộc thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp một người đàn ông nhưng T không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đó; T hỏi và mua được của người này 5.000.000 đồng tiền ma túy; sau khi nhận tiền, người đàn ông chỉ vị trí để ma túy ở ven đường, T đi ra nhặt lên 01 túi nilon màu đen, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa cầm về nhà mở ra kiểm tra thì thấy bên trong có 10 túi nilon một đầu đều có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh (trong đó có 09 túi nilon đựng chất tinh thể màu trắng là ma túy đá và 01 túi nilon đựng viên nén hình tròn màu hồng đỏ là ma túy ngựa). Ngày 21/6/2023, T chuẩn bị 01 ống hút nhựa màu hồng, một đầu cắt vát chéo và lấy 01 túi nilon đựng chất tinh thể màu trắng ra sử dụng hết, T để ống hút nhựa màu hồng vào túi đựng số ma túy còn lại rồi mang cất giấu tại gốc chuối ngoài vườn của gia đình.
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 26/6/2023, T nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0962.268.xxx, người này giới thiệu tên là Q hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá. T đồng ý và hẹn Q đi đến đoạn đường rẽ vào hồ C thuộc thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc để giao dịch. Sau khi tắt điện thoại, T ra vườn nhặt túi nilon màu đen đựng số ma túy cất giấu trước đó và lấy ra 01 túi nilon có rãnh khóa nhựa, viền màu xanh bên trong đựng chất tinh thể màu trắng gói vào tờ giấy vệ sinh cầm ở tay; bên trong túi nilon màu đen vẫn còn 07 túi nilon màu trắng đựng ma túy đá, 01 túi nilon đựng ma túy ngựa, 01 ống hút nhựa màu hồng T đút vào túi quần bên phải phía trước rồi đi ra điểm hẹn để bán ma túy cho Q. Tại đoạn đường rẽ vào hồ C, T vứt gói giấy bên trong là túi nilon ma túy đá xuống nền đường, ở vị trí cột bê tông hàng rào dây thép gai bao quanh hồ câu V. Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 26/6/2023 thì Q và một người thanh niên đi xe máy đến, người thanh niên ngồi trên xe đợi ở phía ngoài, còn Q đi bộ đến chỗ T, Q đưa cho T 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, T cầm tiền cất vào túi áo ngực và chỉ vị trí giấu ma túy cho Q ra nhặt, khi Q vừa nhặt gói giấy vệ sinh bên trong có 01 túi nilon đựng ma túy đá thì bị lực lương Cảnh sát phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T tối ngày 20/6/2023, T khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đó nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Đối với Phạm Văn Q là người mua ma túy của T ngày 26/6/2023, Q khai mua ma túy về để sử dụng. Quá trình điều tra xác định khối lượng ma túy thu giữ trên tay Quyền chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 22/9/2023 Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Phạm Văn Q về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đối với Vũ Quang Nghĩa là người chở Q đến gặp T để mua ma túy. Quá trình điều tra xác định N1 không biết việc Q và T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 03 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo Đào Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đào Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong hai phong bì thư ký hiệu “QT1” và “QT2”, 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng để tiêu hủy; tịch thu của Đào Văn T số tiền 500.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu trắng để sung vào công quỹ Nhà nước. Bị cáo Đào Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Đào Văn T trình bày: Bị cáo nhất trí với nội dung bản Cáo trạng và ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa; bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội; nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai tố cáo, khiếu nại gì. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định và hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Đào Văn T luôn thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Đào Văn T mua ma túy của một người không quen biết đem về nơi ở cất giấu, mục đích để sử dụng, nếu có người hỏi mua sẽ bán kiếm lời. Khoảng 10 giờ ngày 26/6/2023, bị cáo Đào Văn T bán cho đối tượng nghiện Phạm Văn Q 01 gói nhỏ ma túy có khối lượng 0,036 gam, loại Methamphetamine thì bị phát hiện bắt quả tang; thu giữ trên người bị cáo 08 túi ni lon màu trắng đựng ma túy có khối lượng 1,211 gam, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được là 1,247 gam loại Methamphetamine.
[3] Hành vi mua bán chất ma túy như trên của bị cáo Đào Văn T là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các loại chất gây nghiện, làm mất an ninh trật tự tại địa phương; bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trên của bị cáo Đào Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo Đào Văn T về tội danh trên theo điểm khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét thấy ma túy là chất gây nghiện rất nguy hiểm, người nghiện ma túy sẽ bị tổn hại nghiêm trọng về sức khỏe; khi lên cơn nghiện, người nghiện ma túy không làm chủ được hành vi, có thể gây nguy hiểm cho người khác và xã hội; người sử dụng ma túy còn nguy hiểm đến tính mạng của bản thân, có nguy cơ lây lan căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS; tệ nạn ma túy còn là mầm mống phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Nhà nước ta và cả cộng đồng thế giới đều tuyên truyền rộng rãi về tác hại của chất ma túy, thế nhưng bị cáo không tiếp thu mà dấn thân vào con đường nghiện ngập dẫn đến phạm tội. Chứng tỏ bị cáo rất coi thường kỷ cương pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của chính bản thân bị cáo và của cộng đồng; cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo là đúng với chính sách xử lý của pháp luật hình sự Nhà nước ta.
[5] Xem xét các tình tiết để quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy bị cáo Đào Văn T phạm tội lần đầu, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được và tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng, hình phạt giành cho bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt là phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
[6] Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy mục đích phạm tội của bị cáo là nhằm thu lợi bất chính nên cần phải áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền, mức phạt bằng mức khởi điểm là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[7] Đối tượng Phạm Văn Q mua ma túy của Đào Văn T có khối lượng dưới 0,1 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Hành vi của Q chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Công an huyện L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với Q là đúng quy định của pháp luật.
[8] Về vật chứng:
Chất ma túy là loại chất gây nghiện bị pháp luật cấm tàng trữ, sử dụng, lưu hành; cần phải tịch thu toàn bộ khối lượng chất ma túy thu giữ được còn lại sau giám định và các đồ vật liên quan như vỏ túi nilon, ống hút nhựa để tiêu hủy.
Số tiền 500.000 đồng thu giữ của Đào Văn T do bán trái phép chất ma túy mà có, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu trắng Đào Văn T sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần phải tịch thu số tiền và điện thoại nêu trên để sung vào công quỹ Nhà nước.
[9] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; bị cáo Đào Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đào Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 26/6/2023).
Phạt tiền bị cáo Đào Văn T, mức phạt 5.000.000 đ (Năm triệu đồng chẵn) để sung vào công quỹ Nhà nước.
2- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám định, các vỏ túi nilon được niêm phong trong các phong bì thư ký hiệu “QT1”, “QT2” và 01 ống hút nhựa màu hồng để tiêu hủy.
- Tịch thu của Đào Văn T số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng chẵn) do bán chất ma túy mà có, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT3”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu trắng số IMEI: 352031065072141 để sung vào công quỹ Nhà nước.
Những vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam.
3- Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Bị cáo Đào Văn T phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được (hoặc ngày niêm yết) bản án xét xử vắng mặt.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Văn Thái |
Bản án số 76/2023/HS-ST ngày 24/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 76/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T mua ma túy của người không quen biết đem về nơi ở cất giấu, mục đích để sử dụng, nếu có người mua thì bán. Khi T bán 1 gói nhỏ ma túy cho đối tượng nghiện Phạm Văn Q thì bị phát hiện bắt quả tang. Khối lượng ma túy thu giữ được = 1,247 gam Methamphetamine.
