|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 76/2021/HS-ST Ngày 09-6-2021 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Vinh, Ông Nguyễn Kim San
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Đức – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Đậm - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2021 và đối với các bị cáo:
Đặng Bích T, sinh ngày 27 tháng 10 năm 1990 tại Hải Phòng; ĐKHKTT: Tổ 14 khu 1, phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; Chỗ ở: Số 45/39/84/143 T, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 06/12; Giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đặng H sinh năm 1965 và bà Trần Thị Kim O sinh năm 1967; Có chồng là Ngô Trọng T sinh năm 1983 và 03 con; Nhân thân, tiền án tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/01/2021 đến nay. Có mặt.
Phạm Minh H, sinh ngày 30 tháng 5 năm 1987 tại Hải Phòng; ĐKHKTT: Số 160 V, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; Chỗ ở: Thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Duy H (đã chết) và bà Vũ Mai A sinh năm 1965; có vợ là Phạm Thị T sinh năm 1989 và 01 con; Tiền án tiền sự: Tại Bản án số 58/2018/HS-ST ngày 05/4/2018, Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/02/2021 đến ngày 25/02/2021 chuyển tạm giam. Có mặt.
Nguyễn Mạnh C; sinh ngày 25 tháng 5 năm 1970 tại Hải Phòng; ĐKHKTT: Số 5/35C Nguyễn Trung Thành, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; Chỗ ở: số 34/2 Hoàng Văn Thụ, phường M, quận H, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Vũ Thị K sinh năm 1936; có vợ là Nguyễn Thị O và 02 con; nhân thân, tiền án tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/02/2021 đến ngày 25/02/2021 chuyển tạm giam. Có mặt.
Phạm Duy T, sinh ngày 02 tháng 3 năm 1952 tại Hải Phòng; ĐKHKTT: Số 21/277 Nguyễn Công Hòa, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; Chỗ ở: Số 19/39/84/143 Tôn Đức Thắng, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 05/10; Giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Duy H và bà Nguyễn Thị G (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị L sinh năm 1952 và 02 con; tiền án tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/3/2021 đến nay. Có mặt.
Bị hại:
- Bà Phạm Thị N, sinh năm 1960; địa chỉ: Số 465 tỉnh lộ 360, thôn A, thị trấn T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn Q, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn D, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền ăn tiêu nên Nguyễn Mạnh C, Đặng Bích T, Ngô Kim O, Phạm Minh H đã cùng bàn bạc, dàn dựng việc mua bán mỹ phẩm với nhau để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Để tránh bị phát hiện, C, T rủ thêm Phạm Duy T đi cảnh giới nếu có người đến sẽ báo cho cả bọn biết để tẩu thoát. Với thủ đoạn đã bàn, các đối tượng đã thực hiện 02 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Chiều ngày 13/4/2020, Nguyễn Mạnh C gọi điện cho Ngô Kim O, Đặng Bích T, Phạm Duy T sáng ngày 14/4/2020 tập trung tại cổng trường Cao đẳng Y Hải Phòng để đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sáng hôm sau, Cường mang theo 45 hộp mỹ phẩm và bảo em trai là Nguyễn Văn D đi chở số mỹ phẩm trên. Sau đó, T điều khiển xe môtô Vision BKS: 15G1 - 594.51; O điều khiển xe môtô Airblade BKS: 16M6 - 6533; Cường điều khiển xe mô tô Jupiter BKS: 15B1 - 526.33; T điều khiển xe mô tô Wave BKS: 15B3 - 325.97; Dần điều khiển xe mô tô Sirius BKS: 15B1 - 787.05 cùng đi về hướng huyện A. Khi đi đến cửa hàng mua bán sắt vụn của chị Phạm Thị N, sinh năm 1964 ở địa chỉ: Số 465 tỉnh lộ 360, A, T, A, theo sự phân công từ trước, T đi vào trong nhà giả vờ mua hàng. Một lúc sau, C mang một hộp mỹ phẩm vào chào bán với giá 1.000.000 đồng, T trả giá rồi đồng ý mua với giá 500.000 đồng và có nhu cầu mua thêm mấy chục hộp nên C đi ra ngoài chỗ D lấy thêm. Lúc này, O từ ngoài đi vào khen mỹ phẩm rẻ và bảo T cho chị chủ nhà tiền vì đã mua được hàng với giá rẻ, T đồng ý lấy 2.200.000 đồng đưa cho chị N. Sau khi ra chỗ D, C mang hết 45 hộp mỹ phẩm vào bán cho T với tổng số tiền là 22.500.000 đồng. T đồng ý rồi giả vờ kiểm tra ví, thấy không đủ tiền trả C nên hỏi chị N vay số tiền 22.500.000 đồng và mượn lại 2.200.000 đồng mình đã đưa. Do T nói sẽ để số mỹ phẩm vừa mua được lại làm tin, đồng thời trước đó đã được T cho tiền nên chị N tin tưởng đưa lại cho T 2.200.000 đồng và cho T vay thêm 22.500.000 đồng. Khi chiếm đoạt được số tiền 22.500.000 đồng, C chia cho T, D mỗi người 300.000 đồng, trừ tiền xăng xe, tiền mua mỹ phẩm, số tiền còn lại C, T, O chia nhau mỗi người 6.300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Căn cứ lời khai của các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Đặng Bích T, Phạm Minh H và Phạm Duy T tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai những người bị hại, những người làm chứng, vật chứng thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 14/4/2020, Nguyễn Mạnh C đã cùng với Ngô Kim O, Đặng Bích T, Phạm Duy T đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền 22.500.000 đồng của chị Phạm Thị T. Ngày 07/9/2020, cũng bằng thủ đoạn gian dối, các bị cáo Đặng Bích T, Phạm Minh H, Phạm Duy T và Ngô Kim O đã chiếm đoạt số tiền 7.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị A. Như vậy, đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Đặng Bích T, Phạm Minh H, Phạm Duy T đồng phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 BLHS.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Bích T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 56; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Minh H 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù tại Bản án số 58/2018/HS-ST ngày 05/4/2018, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 42 (Bốn mươi hai) tháng tù.
- Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Duy T 09 (Chín) tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
|
Nơi nhận: - Vụ 1 – TANDTC; - TANDCC; VKSNDCC; - VKSND TP Hải Phòng; - PV06 Công anTP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - Sở Tư pháp TPHP; - Bị cáo; Trại tạm giam; - Người tham gia tố tụng; - Phòng KTNV và THA; - Lưu: HS, HCTP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Bình |
Bản án số 76/2021/HS-ST ngày 09/06/2021 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 76/2021/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mạnh C cùng đồng phạm phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
