|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BN Bản án số: 76 /2021/DSPT Ngày: 15/07/2021 V/v: Tranh chấp tài sản thừa kế |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BN
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hòa.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tính.
Bà Nguyễn Tuyết Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huyền - Thư ký TAND tỉnh BN.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh BN tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 07 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh BN xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 70/2021/TLPT- DS, ngày 25/3/2021 về “Tranh chấp tài sản thừa kế”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2020/DS-ST ngày 25/12/2020 của Tòa án nhân dân thị xã TS, tỉnh BN bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 69/2021/QĐ-PT ngày 22/4/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh BN, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1953. Có mặt.
Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1954. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn RG, xã Phù C, thị xã TS, tỉnh BN. - - Bị đơn: Ông Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1958.
Sinh quán: Thôn RG, xã Phù C, thị xã TS, tỉnh BN.
Địa chỉ: 161/37/3 Đông Hưng T 2, phường Tân Hưng T, quận 12, thành phố HCM. (Có đơn xin xét xử vắng mặt). - - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đ: Ông Đặng Văn Cường- Luật sư Văn phòng luật sư Chính Pháp, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; Địa chỉ: Số 65B phố Tôn Đức Thắng, phường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Có mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Đ2, sinh năm 1938. Có mặt.
Địa chỉ: Khu phố Đại Đ, phường Tân H, thị xã TS, tỉnh BN. - Ông Hoàng Bá N, sinh năm 1954.
- Ông Nguyễn Tiến H, sinh năm 1949.
Địa chỉ: Thôn RG, xã Phù C, thị xã TS, tỉnh BN.
Ông N uỷ quyền cho bà Đ1, ông Hợp ủy quyền cho bà Đ tham gia tố tụng. - Bà Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1959. (Ủy quyền cho ông Đ).
- UBND xã Phù C, thị xã TS, tỉnh BN.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Nguyên H - Chủ tịch UBND. Xin xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Đ2, sinh năm 1938. Có mặt.
Người có kháng cáo: Ông Nguyễn Đình Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:
Nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Đ, Bà Nguyễn Thị Đ1 thống nhất trình bày: Bố đẻ của các bà là cụ Nguyễn Đình D (1915 - 1995). Cụ D và cụ Nguyễn Thị P (1916 - 1940) sinh được một người con là Bà Nguyễn Thị Đ2. Sau khi cụ Phố chết, Cụ D kết hôn với cụ Lê Thị Đ (1917 - 1997) và sinh ra 03 người con là: Bà Nguyễn Thị Đ; Bà Nguyễn Thị Đ1 và Ông Nguyễn Đình Đ. Cụ D và cụ Đ không có con nuôi. Cụ Đ không có con riêng nào khác. Giữa bà Đ2 và cụ Đ là quan hệ con chồng, mẹ kế. Nhưng do mẹ đẻ mất từ khi bà Đ2 còn rất nhỏ. Cụ Đ đã chăm sóc, nuôi dưỡng bà Đ2 như con đẻ. Ngoài ra, các cụ không nhận ai làm con nuôi có quan hệ nuôi dưỡng thực sự.
Năm 1993, Cụ D và cụ Đ được Nhà nước giao đất nông nghiệp để sử dụng trồng lúa. Tổng diện tích là: 1170m2; cụ thể ở các xứ đồng: Đồng Dộc Cũ: 144m2; Đường Ngái: 270m2; Đồng Cũi: 756m2. Cụ D chết không để lại di chúc về số ruộng canh tác cho các con.
Sau khi Cụ D mất, cụ Đ đã đề nghị Hợp tác xã chuyển số ruộng cho hai con gái canh tác. Cụ thể số ruộng ở Đồng Cũi, mỗi bà sử dụng ½ diện tích. Ruộng ở đồng Dộc Cũ do bà Đ1 và Ông N sử dụng. Ruộng ở đồng Đường Ngái do bà Đ, ông Hợp sử dụng. Năm 2012 và 2016, một phần diện tích đất nông nghiệp nói trên bị thu hồi, số tiền được Nhà nước bồi thường, hỗ trợ tương ứng với số ruộng bị thu hồi là: Xứ đồng Đường Ngái, diện tích 270m2 số tiền 118.705.000 đồng; Xứ đồng Dộc cũ, diện tích 144m2 số tiền 74.103.200 đồng; Xứ Đồng Cũi thu hồi diện tích 88m2 (phần do bà Đ, ông Hợp canh tác) số tiền 38.632.000 đồng; Xứ đồng Cũi thu hồi diện tích 101m2 (phần do bà Đ1, Ông N canh tác) số tiền 44.339.000 đồng. Tổng diện tích bị thu hồi là 603m2, tương đương với số tiền là 275.779.800 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Xét kháng cáo của Ông Nguyễn Đình Đ được nộp trong hạn luật định, có nội dung phù hợp là kháng cáo hợp lệ nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.
[2]. Về nội dung vụ án: Cụ Nguyễn Đình D (sinh năm 1915, chết năm 1995) kết hôn với cụ Nguyễn Thị P (sinh năm 1916, chết năm 1940); trong quá trình chung sống, hai cụ sinh được một người con là Bà Nguyễn Thị Đ2. Sau khi cụ Phố chết, Cụ D kết hôn với cụ Lê Thị Đ (sinh năm 1917, chết năm 1997) hai cụ sinh ra 03 người con là Bà Nguyễn Thị Đ, Bà Nguyễn Thị Đ1 và Ông Nguyễn Đình Đ. Ngoài ra, Cụ D và cụ Đ không có con nuôi, con riêng nào khác.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 148; khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Xử: Bác kháng cáo của Ông Nguyễn Đình Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
1. Xác định di sản thừa kế của cụ Nguyễn Đình D gồm: ½ số tiền bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất nông nghiệp do UBND xã Phù C đang quản lý là 275.779.800 đồng; Phần lãi phát sinh đến ngày 30/10/2020 là 312.929.873 đồng; ½ của diện tích 567m2 đất nông nghiệp thuộc thửa đất số 388, tờ bản đồ số 5 tại xứ Đồng Cũi thuộc Thôn RG, xã Phù C, thị xã TS, tỉnh BN.
2. Phân chia số tiền bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất nông nghiệp: Chia cho Bà Nguyễn Thị Đ2, Ông Nguyễn Đình Đ mỗi người được hưởng số tiền là 31.292.987 đồng. Chia cho Bà Nguyễn Thị Đ, Bà Nguyễn Thị Đ1, mỗi người được hưởng số tiền là 125.171.949 đồng.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hữu Hòa |
Bản án số 76 /2021/DSPT ngày 15/07/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh BN về tranh chấp tài sản thừa kế
- Số bản án: 76 /2021/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh BN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp tài sản thừa kế giữa Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ và Bị đơn: Ông Nguyễn Đình Đ
