|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 759/2024/HS-PT Ngày: 28 - 8 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Thanh Dũng
Ông Ngô Mạnh Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 339/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn Â. Do có kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
- Bị cáo kháng cáo/bị kháng nghị:
ĐINH NGUYỄN HOÀN Â1, sinh năm: 1973, tại tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam;
Nơi cư trú: Khu phố C, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Nghề nghiệp: Nguyên kế toán trưởng; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Đinh Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị D (đã chết); V là: Nguyễn Thị Thanh H1 và 02 người con; Tiền án, Tiền sự: Không; Tạm giữ: Không; Tạm giam: 20/4/2023.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn  do Tòa án chỉ định:
Luật sư Hứa Thanh K, thuộc Đoàn luật sư tỉnh N (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp tỉnh N (sau đây gọi tắt là Trung tâm G) được thành lập trên cơ sở hợp nhất Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Ninh Thuận và Trung tâm K1, là đơn vị sự nghiệp công lập, thuộc Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh N, có tư cách pháp nhân. Trung tâm G có 03 nguồn kinh phí để hoạt động gồm:
- Nguồn ngân sách: do Sở Tài chính tỉnh N cấp hàng năm, được sử dụng để chi trả lương, các khoản phụ cấp, đóng góp bảo hiểm theo lương cho cán bộ, nhân viên.
- Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ đào tạo: đào tạo các lớp Trung học phổ thông - giáo dục thường xuyên; đào tạo các lớp liên kết đào tạo hệ vừa làm vừa học, từ xa, các lớp chứng chỉ ngắn hạn, các lớp ngoại ngữ, tin học; các lớp đào tạo lái xe mô tô hạng A1 và nghề trung học phổ thông.
- Nguồn thu khác: bao gồm nguồn thu từ việc cho các đơn vị khác thuê cơ sở vật chất phục vụ các lớp tập huấn tại Trung tâm G, cho thuê mặt bằng làm căn tin và giữ xe.
Đinh Nguyễn Hoàn  làm việc tại Trung tâm G từ năm 2008 đến năm 2022. Từ 2008 đến 2014 làm kế toán viên, từ 2014 đến tháng 8/2019 làm Thủ quỹ, từ ngày 01/9/2019 đến 2022 làm Kế toán trưởng. Được phân công thu học phí của 42 lớp liên kết tổ chức tại Trung tâm G.
Trong quá trình thu học phí,  đã lấy một phần tiền học phí thu được để sử dụng cá nhân, sau đó lấy học phí thu được của lớp sau để nộp bù vào số học phí đã lấy trước đó, dẫn tới có nhiều học sinh, sinh viên đã nộp tiền học phí cho  (có phiếu thu) nhưng không có tên trong danh sách nộp tiền trên sổ sách kế toán của Trung tâm G.
Qua đối chiếu số liệu thu, nộp học phí của 42 lớp do  thu tiền xác định được:
- 11 lớp có số tiền Ân nộp quỹ tiền mặt Trung tâm giáo dục thường xuyên ít hơn số tiền mà Â thực thu (theo phiếu thu) với số tiền là 3.875.909.000 đồng, cụ thể:
| STT | Tên lớp | Số tiền trên phiếu thu thực tế do Ân thu | Số tiền trên phiếu thu nộp quỹ tiền mặt | Số tiền học phí Ân đã thu nhưng không nộp quỹ tiền mặt |
|---|---|---|---|---|
| ((1) | (2) | (3) | (4) | (5)=(4)-(3) |
| 1 | Lớp quản lý ngạch chuyên viên 2019 Học viện hành chính quốc gia Cơ sở Huế | 259.624.000 | 0 | 259.624.000 |
| 2 | Lớp liên thông sư phạm âm nhạc năm 2018 Học viện âm nhạc Huế | 512.000.000 | 333.800.000 | 178.200.000 |
| 3 | Lớp Điện liên thông 2019 Đại học Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh | 842.170.000 | 0 | 842.170.000 |
| 4 | Lớp Luật 2017 Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh | 1.454.905.000 | 652.800.000 | 802.105.000 |
| 5 | Lớp Điện công nghiệp 2020 Đại học Giao thông vận tải Tp. Hồ Chí Minh | 330.000.000 | 120.360.000 | 209.640.000 |
| 6 | Lớp Xây dựng dân dụng và công nghiệp 2020 Đại học Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh | 329.050.000 | 49.250.000 | 279.800.000 |
| 7 | Lớp Kỹ thuật công trình giao thông năm 2016 Đại học Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh | 443.100.000 | 257.800.000 | 185.300.000 |
| 8 | Lớp Luật 2020 Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh | 532.000.000 | 91.070.000 | 440.930.000 |
| 9 | Lớp Điện công nghiệp 2022 Đại học Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh | 201.600.000 | 111.600.000 | 90.000.000 |
| 10 | Lớp Thông tin thư viện năm 2018 Đại học Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh | 1.003.280.000 | 629.640.000 | 373.640.000 |
| 11 | Các lớp Trung học phổ thông | 214.500.000 | 0 | 214.500.000 |
| Tổng cộng | 6.122.229.000 | 2.246.320.000 | 3.875.909.000 | |
- 03 lớp có số tiền Ân nộp quỹ tiền mặt nhiều hơn 630.820.000 đồng so với số tiền học phí mà  thu thực tế do  nộp trùng (nộp tiền thu học phí vào quỹ tiền mặt 02 lần) đối với một số học viên thuộc các lớp Quản trị Khoá 15, Luật Khoá 22 liên kết với Trung tâm đào tạo từ xa Đ và lớp Kinh tế phát triển 2013 liên kết với Đại học K2.
Nguyên nhân là do trong cùng một lúc Ân thu học phí của nhiều lớp, sau khi thu thì  không nộp quỹ tiền mặt ngay mà thường lấy học phí của lớp này để nộp bù cho số tiền đã lấy từ lớp trước đó, dẫn tới có nhiều học sinh Ân lập danh sách nộp tiền bị trùng nội dung và làm tăng tổng số tiền học phí Ân nộp quỹ tiền mặt đối với các lớp đó so với số tiền ông  thu thực tế.
Sau khi cân đối các khoản thu – chi, xác định: Đinh Nguyễn Hoàng Â2 đã thu học phí đối với các lớp học tổ chức tại Trung tâm giáo dục thường xuyên nhưng không nộp quỹ theo quy định đối với số tiền 2.922.444.000 đồng (3.875.909.000 đồng – 630.820.000 đồng – 322.645.000 đồng).
Ngày 21/11/2022, Đinh Nguyễn Hoàng Â2 đến cơ quan điều tra tự thú, khai nhận hành vi của mình, gia đình của Â2 đã đem 365.000.000 đồng nộp cho cơ quan điều tra. Ngày 12/9/2023 Nguyễn Thị Thanh H1 (vợ bị cáo) nộp 5.000.000đ để khắc phục thiệt hại thay cho Â2.
Ngoài ra qua điều tra xác định trong thời gian làm việc tại Trung tâm G, Â2 đã chi cho các hoạt động của trung tâm nhưng chưa quyết toán đối với 48 mục chi, với số tiền 262.106.000 đồng. Cơ quan điều tra đã có Công văn số 784/CSĐT-PC03 ngày 14/9/2023 đề nghị hạch toán bổ sung chi phí theo quy định (BL 4182).
- Tại Cáo trạng số 13/CT-VKS-P1 ngày 07 - 11 - 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận truy tố Đinh Nguyễn Hoàng Â2 về tội “Tham ô tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận quyết định:
- Tuyên bố: Bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn  phạm tội “Tham ô tài sản”.
- Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 353; điểm b, s, r, t khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn  16 (Mười sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày: 20/4/2023.
- Về biện pháp tư pháp: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 BLHS.
Buộc bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn  phải trả lại cho Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp tỉnh N số tiền 2.922.444.000 đồng (Hai tỷ chí trăm hai mươi hai triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn đồng)
Tiếp tục tạm giữ số tiền 370.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu đồng) theo các giấy nộp tiền ngày 02/12/2022 và ngày 19/9/2023 của Ngân hàng thương mại cổ phần C để đảm bảo thi hành án tiền khắc phục thiệt hại.
Công an tỉnh N (PC03) có nghĩa vụ chuyển giao số tiền này cho Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Thuận để thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/4/2024, bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn  có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt.
Ngày 19/4/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 09/QĐ/VC3-V1 kháng nghị một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về án phí, buộc bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn  phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền bồi thường cho bị hại.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn  thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu, vẫn giữ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ là tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đồng thời, không đồng ý kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị.
Luật sư Hứa Thanh K bào chữa cho bị cáo trình bày: Bản án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo  là đúng tội. Tuy nhiên, bị cáo không nhận thức được hành vi của mình bị pháp luật xử lý, hiện vợ và con của bị cáo  hiện không có chỗ ở, không có chi phí sinh hoạt, hoàn cảnh khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn  về tội “Tham ô tài sản” theo quy định điểm a khoản 4 Điều 353 của Bộ luật hình sự với mức hình phạt 16 năm tù. Đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP . cho rằng do bị cáo đã thỏa thuận việc khắc phục thiệt hại trước khi vụ án được xét xử sơ thẩm nên Tòa án cấp sơ thẩm không buộc bị cáo phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là không phù hợp, đến thời điểm này bị cáo vẫn chưa hoàn tất việc bồi thường nên cần tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm. Đối với kháng cáo của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ quyết định mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt. Do đó, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm đối với phần án phí dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Đơn kháng cáo của bị cáo và Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh còn trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn  thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo được thẩm tra công khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở để xác định như sau:
- [2.1] Đinh Nguyễn Hoàn  làm việc tại Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp tỉnh N từ năm 2008 đến năm 2022. Từ 2008 đến 2014 làm kế toán viên, từ 2014 đến tháng 8/2019 làm Thủ quỹ, từ ngày 01/9/2019 đến 2022 làm Kế toán trưởng, với nhiệm vụ được giao là thu và quản lý tiền học phí của các lớp liên kết đào tạo tại Trung tâm. Tuy nhiên, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, cùng với sự quản lý tài chính chưa chặt chẽ của Trung tâm, từ năm 2014 đến năm 2022, Đinh Nguyễn Hoàn  đã thực hiện việc thu tiền học phí của các học viên nộp cho Trung tâm rồi lấy tiền thu được sử dụng vào mục đích cá nhân. Để không bị phát hiện,  lấy tiền học phí thu được của các lớp học sau để bù vào số tiền đã lấy sử dụng trước đó. Với thủ đoạn trên, Đinh Nguyễn Hoàn  đã chiếm đoạt của Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp tỉnh N với số tiền 2.922.444.000 đồng.
- [2.2] Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn  phạm tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- [3] Xét kháng cáo của bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn Â.
- [3.1] Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản và hoạt động đúng đắn của tổ chức, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nên cần xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- [3.2] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 2 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tự thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan điều tra làm sáng tỏ vụ án; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, được quy định tại điểm b, r, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đồng thời áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, từ đó chỉ xử phạt bị cáo 16 năm tù, dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 353 Bộ luật hình sự là đã có xem xét áp dụng chính sách khoan hồng cho bị cáo và phù hợp với quy định của pháp luật.
- [3.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có cơ sở chấp nhận.
- [4] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- [4.1] Tại điểm f, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án quy định:
“f. Trước khi mở phiên tòa, đương sự, bị cáo thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại và đề nghị Tòa án ghi nhận việc bồi thường thiệt hại thì họ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tại phiên tòa, đương sự, bị cáo thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại thì họ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp Tòa án đưa ra xét xử vụ án đó.
g. Trường hợp bị cáo tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa thì không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền đã tự nguyện nộp”.
- [4.2] Xét thấy, trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được việc bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, bị cáo mới chỉ hoàn trả 370.000.000 đồng, số tiền còn lại chưa hoàn trả cho bị hại và tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện bị hại cũng như bị cáo cũng không yêu cầu Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận này mà phía bị hại yêu cầu Tòa án buộc bị cáo phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt. Tại phần quyết định của bản án sơ thẩm cũng tuyên xử “Buộc bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn  phải trả lại cho Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp tỉnh N số tiền 2.922.444.000 đồng. Tiếp tục tạm giữ số tiền 370.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu đồng) theo các giấy nộp tiền ngày 02/12/2022 và ngày 19/9/2023 của Ngân hàng thương mại cổ phần C để đảm bảo thi hành án tiền khắc phục thiệt hại”.
- [4.3] Đối chiếu quy định pháp luật với phân tích trên, bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền bị cáo có nghĩa vụ phải thi hành sau khi trừ đi số tiền đã bồi thường. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được việc bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa sơ thẩm nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là chưa đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, phần quyết định của bản án sơ thẩm không tuyên về án phí dân sự là thiếu sót. Tuy nhiên, tại phần nhận định của bản án sơ thẩm đã xác định bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên thiếu sót này không gây bất lợi đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo, vì vậy đây không phải là vi nghiêm trọng thủ tục tố tụng, Tòa án cấp phúc thẩm có thể khắc phục được nên không cần thiết hủy án. Như vậy, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ chấp nhận.
- [4.1] Tại điểm f, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án quy định:
Ngoài ra, về trách nhiệm dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải trả số tiền 2.922.444.000 đồng cho Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp tỉnh N nhưng không tuyên khấu trừ số tiền 370.000.000 đồng gia đình bị cáo đã nộp trong giai đoạn điều tra sẽ gây bất lợi cho bị cáo khi xác định án phí dân sự sơ thẩm; hơn nữa bản án cũng không tuyên nghĩa vụ trả lãi nếu chậm trả tiền theo quy định của pháp luật là thiếu sót. Do sửa bản án sơ thẩm về án phí, buộc bị cáo chịu án phí dân sự sơ thẩm nên Hội đồng xét xử cũng đồng thời sửa lại cách tuyên phần này cho phù hợp.
- [5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, sửa một phần bản án sơ thẩm về án phí và trách nhiệm dân sự. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- [6] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- [7] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn  phải chịu theo quy định pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 2 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn Â; Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận về án phí và trách nhiệm dân sự.
Tuyên xử:
- [1] Tuyên bố: Bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn  phạm tội “Tham ô tài sản”.
- [2] Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 353; điểm b, r, s, t khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn  16 (Mười sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày: 20/4/2023.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn  để đảm bảo thi hành án.
- [3] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 584 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn  có trách nhiệm bồi thường cho Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp tỉnh N số tiền 2.922.444.000 đồng (Hai tỷ chín trăm hai mươi hai triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn đồng), được khấu trừ số tiền 370.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu đồng) gia đình bị cáo đã nộp theo các giấy nộp tiền ngày 02/12/2022 và ngày 19/9/2023 của Ngân hàng thương mại cổ phần C. Bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn  có trách nhiệm tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho Trung tâm giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp tỉnh N là 2.552.444.000 (Hai tỷ năm trăm năm mươi hai triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng.
(Công an tỉnh N (PC03) có nghĩa vụ chuyển giao số tiền 370.000.000 nêu trên cho Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Thuận để thi hành án).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- [4] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn  phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 83.048.880 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- [5] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- [6] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn  phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Văn Minh |
Bản án số 759/2024/HS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - tham ô tài sản
- Số bản án: 759/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đinh Nguyễn Hoàng A phạm tội “Tham ô tài sản”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Nguyễn Hoàn A; Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận về án phí và trách nhiệm dân sự
