Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 757/2024/HC-PT

Ngày: 23 -7 - 2024

V/v Khiếu kiện quyết định hành chính

trong lĩnh vực quản lý đất đai.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hùng

Bà Bùi Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 159/2024/TLPT-HC ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 2380/2023/HC-ST ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2181/2024/QĐPT-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Bà Lê Thị L

Địa chỉ: 4 P, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Hoàng Đ

Địa chỉ: A B, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.

- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận H1

Địa chỉ: D D, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Thái Thành T - Phó Phòng tài nguyên và môi trường Quận H – Có mặt.

Người kháng cáo: Bà Lê Thị L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Người khởi kiện bà Lê Thị L – có đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bà Lê Thị L khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 229/QĐ-XPVPHC ngày 18/8/2022, Quyết định số 244/QĐ-SĐBS ngày 31/8/2022 về việc sửa đổi, bổ sung một phần quyết định xử phạt; Quyết định số 387/QĐ-CCXP ngày 29/12/2022 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận H1.

Lý do khởi kiện:

Bà Lê Thị L, là người trực tiếp sử dụng và quản lý khu đất diện tích 143 m² (ngang 11m, dài 13m), thuộc thửa đất 30 cũ, tương ứng với thửa mới là 30-1 và 30-2, tọa lạc cạnh chùa G, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dâH1 (UBND) Quận H nhiều sai phạm:

Bà L không có hành vi vi phạm hành chính (HV VPHC) về lĩnh vực đất đai là chiếm đất phi nông nghiệp tại khu vực đô thị - vị trí không số, cạnh số A P, Phường A, Quận H (thuộc một phần thửa 30, tờ bản đồ số 143 Bản đồ địa chính Phường 16) như nội dung của hai Quyết định XPVPHC.

Nguồn gốc đất của ông Nguyễn Văn M, hay có tên khác là Tư Hải D (người sở hữu hợp pháp quyền sử dụng mảnh đất đang tranh chấp) cảm thương cho hoàn cảnh gia đình bà L khó khăn. Ông M đã tự nguyện tặng cho gia đình bà phần đất này để tích góp làm ăn. Từ năm 1990, bà L đã sử dụng phần đất này và có xây cất 01 nhà tạm cột sắt, mái tôn để buôn bán. Mặc dù ông M cho bà L không có giấy tờ nhưng các con của ông M gồm: Ông Nguyễn Ngọc D1 (sinh năm 1978, số CCCD: [...], thường trú tại D P, Phường A, Quận H, Tp .), bà Nguyễn Ngọc O (sinh năm 1972, số CCCD: [...], thường trú tại D P, Phường A, Quận H) và bà Nguyễn Ngọc P (sinh năm 1965, số CCCD: [...], thường trú tại D P, Phường A, Quận H) đã làm Tờ tường trình ngày 26/8/2019 tại Văn phòng C, thể hiện được nguồn gốc đất và thừa nhận việc tặng cho thửa đất từ ông M cho bà L. Mặt khác, 15 hộ dân xung quanh sinh sống lâu năm ở địa phương cũng đã xác nhận về việc bà L đã sử dụng thửa đất này ổn định, lâu dài từ năm 1990 đến nay. Vì không biết chữ, nên bà L không kê khai nhà đất.

Theo Điều 326 Bộ luật Dân sự 2015: “Người chiếm hữu, người được lợi về

tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác". Trong quá trình sử dụng, quản lý thửa đất, bà L không bỏ hoang đất quá 12 tháng (Có Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt và Hợp đồng dịch vụ cấp nước đính kèm), không gây lãng phí đất, không vi phạm bất kỳ quy định nào của pháp luật về đất đai.

Trong quá trình xin các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với phần đất nêu trên, bà L đã nhiều lần tham gia các phiên họp làm việc tại H1 về việc tranh chấp thửa đất và căn nhà tồn trên với Công ty S. Việc giải quyết của H1 chỉ xoay quanh việc ghi nhận ý kiến các bên và hoàn toàn không đạt được kết quả thỏa đáng.

Sau đó, bà L nhận được Quyết định XPVPHC số 229/QĐ-XPVPHC ngày 18/82022 và Quyết định sửa đổi, bổ sung số 244/QĐ-SĐBS ngày 31/8/2022 của Chủ tịch H1 về hành vi “Đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính: chiếm đất phi nông nghiệp tại khu vực đô thị tại vị trí không số cạnh số A P. Phường A. Quận H (thuộc một phần thửa 30, tờ bản đồ số 143 Bản đồ địa chính Phường A, diện tích 51,72m² theo Bản vẽ hiện trạng do Công ty Trách nhiệm Xây dựng - Thiết kế - Dịch vụ - Đo đạc Thành Công lập ngày 05 tháng 8 năm 2022. Áp dụng hình thức xử phạt chính là phạt tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) và Biện pháp khắc phục hậu quả -Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm đối với các hành vi vi phạm tại các khoản 4 và khoản 5 của Điều 14 Nghị định 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ và buộc trả lại đất đã chiếm".

Ngày 29/12/2022, bà L nhận được Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 387/QĐ-CCXP ngày 29/12/2022, buộc bà L khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm và buộc trả lại đất đã chiếm đối với một phần thừa 30, tờ bản đồ 143, bản đồ địa chính phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, thời gian thực hiện: 15 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định này.

- Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận H1: Vắng mặt, có văn bản trình bày ý kiến như sau:

1. Về Quyết định số 229/QĐ-XPVPHC ngày 18 tháng 8 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận H1 về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bà Lê Thị L.

Phần đất do bà Lê Thị L chiếm dụng, xây dựng bất hợp pháp (thuộc một phần thửa đất số 30, tờ bản đồ số 143 Bản đồ địa chính Phường A, Quận H) có diện tích là: 66,95m², một phần thuộc ranh Dự án khu nhà ở thương mại P, Phường A, Quận H do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S làm chủ đầu tư là 15,23m², một phần thuộc lộ giới đường B là 51,72m².

Ngày 18 tháng 8 năm 2022, Chủ tịch H1 ban hành Quyết định số 229/QĐ-XPVPHC về XP VPHC trong lĩnh vực đất đai đối với bà Lê Thị L do đã thực hiện HVVPHC: lấn chiếm đất phi nông nghiệp tại khu vực đô thị (quy định tại điểm a, khoản 4 và khoản 5 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai).

Phần đất do bà Lê Thị L chiếm dụng, xây dựng bất hợp pháp bị xử phạt có nguồn gốc thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 143 (Bản đồ địa chính Phường A) thuộc thửa đất số 248, tờ thứ 2 (Tài liệu 02/CT-UB) do ông (bà) Nguyễn Ngọc Á đăng ký theo Sổ Mục kê đất năm 1995. Trước năm 1975, ông Nguyễn Ngọc Á mua khu đất trên và trồng cây lưu niên. Sau năm 1976, H1 (trước đây là Ủy ban nhân dân Phường 22 Quận H) mượn khu đất làm sân bóng đá.

Ngày 04 tháng 5 năm 1999, H1 có Quyết định số 2546/QĐ-UB-TD về việc giải quyết khiếu nại liên quan đến khu đất trên. Ngày 24 tháng 12 năm 2001, H1 ban hành Quyết định số 8746/QĐ-UB về việc điều chỉnh quyết định số 2546/1999/QĐ-UB-TD như sau:

- Công nhận cho H1 sử dụng công ích 2.104m² diện tích thuộc thửa 248-2 tờ bản đồ thứ 2 Bộ địa chính Phường A, Quận H theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 70538/ĐĐBĐ ngày 08 tháng 10 năm 2001 do Đoàn đo đạc bản đồ (Sở Địa chính - Nhà đất) lập.

- Công nhận cho ông Nguyễn Ngọc Á sử dụng công ích 2.104m² diện tích thuộc thửa 248-1 tờ bản đồ thứ 2 Bộ địa chính Phường A, Quận H theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 70538/ĐĐBĐ ngày 08 tháng 10 năm 2001 do Đoàn đo đạc bản đồ (Sở Địa chính - Nhà đất) lập.

- Phần diện tích còn lại khoảng 941m² thuộc lộ giới đất đường G quy hoạch 20m.

Ngày 22 tháng 4 năm 2002, H1 có Công văn số 3126/CV-UB về việc phân chia ranh khu đất cho ông Nguyễn Ngọc Á tại Phường A, Quận H.

Ngày 02/10/2002, H1 chủ trì, phối hợp Thanh tra Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Địa chính - Nhà đất, Đoàn đo đạc bản đồ, H1 và ông Nguyễn Ngọc Á tiến hành đo đạc, phân chia ranh đất tại thực địa giữa H1 và ông Nguyễn Ngọc Á theo Quyết định số 8746/QĐ-UB ngày 24 tháng 12 năm 2002 của H1. Qua đó, Biên bản ghi nhận sự thống nhất về đo đạc giao đất đúng theo bản vẽ do Đ1 đo đạc bản đồ thực hiện, cụ thể như sau:

- Phần giao cho ông Nguyễn Ngọc Á (phía Bắc) có chi tiết như sau:

  • + H: cách tim đường B 15m.
  • + Hướng T1: giáp tường hiện hữu chạy về hướng Nam 26,9m².
  • + Hướng N: giáp đất trống của Quận H.
  • + Hướng B: cách nhà tình nghĩa là 3,3m.

- Phần đất của Ủy ban nhân dân Quận H1 (phía Nam) có chi tiết như sau:

  • + Hướng Đông giáp cách tim đường B 15m.
  • + Hướng T1: giáp tường hiện hữu.
  • + Hướng N: khu dân cư hiện hữu.
  • + Hướng B: giáp đất ông Nguyễn Ngọc Á.

Ngày 19 tháng 10 năm 2002, ông Nguyễn Ngọc Á có Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất, đồng thời xin chuyển đổi cơ cấu cây trồng và ông Nguyễn N1.

Án đã được Ủy ban nhân dân Quận H1 cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 00805QSDĐ/345/QĐ-UB ngày 24 tháng 01 năm 2003 theo Quyết định số 345/QĐ-UB ngày 24/ 01/ 2003 của H1.

Năm 2004, Ông Nguyễn Ngọc Á chuyển nhượng cho hộ bà Vũ Ninh H sinh năm 1956.

Năm 2010, UBND Thành phố H1 có Công văn số 5609/UBND-ĐTMT ngày 03 tháng 11 năm 2010 chấp thuận cho Công ty Cổ phần X phố đầu tư xây dựng chung cư tại Phường A, Quận H. Căn cứ Bản đồ hiện trạng vị trí số 41496/GĐ-TNMT do Công ty Trách nhiệm hữu hạn D2 địa chất và đo đạc bản đồ Quan San lập theo yêu cầu của Công ty Cổ phần X phố được Sở Tài nguyên và Môi trường duyệt ngày 13 tháng 5 năm 2011 có diện tích là 2.104m², theo đó thể hiện, phần đất phía Đông (mặt tiền dự án) là đất trống.

Năm 2020, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S đã nhận chuyển nhượng và chỉnh lý biến động toàn bộ 2.104m² đất từ Công ty Cổ phần X, bao gồm 13 Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất.

Đồng thời, Dự án khu nhà ở thương mại P, Phường A, Quận H do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S làm chủ đầu tư theo Quyết định chủ trương đầu tư số 293/QĐ-UBND ngày 25 tháng 01 năm 2021 của UBND Thành phố H1.

Bên cạnh đó, Bản đồ hiện trạng vị trí số 41496/GĐ-TNMT do Công ty Trách nhiệm hữu hạn D2 địa chất và đo đạc bản đồ Quan San lập theo yêu cầu của Công ty Cổ phần X Phố được Sở Tài nguyên và Môi trường duyệt ngày 13 tháng 5 năm 2011 đối với thửa đất số 30, tờ bản đồ số 143 theo tài liệu Bản đồ địa chính 2002 diện tích 2.104m², theo đó thể hiện, phần đất phía Đông (mặt tiền dự án) là đất trống tiếp giáp đường B (thuộc lộ giới quy hoạch đường B 20m), đồng thời, theo Biên bản kiểm tra ngày 08 tháng 6 năm 2012 thì Dự án chung cư do Công ty Cổ phần X đầu tư tại Phường A, Quận H không ghi nhận việc phát sinh lấn chiếm đất và tranh chấp khiếu nại.

Căn cứ những nội dung nêu trên, H1 nhận thấy phần đất do bà Lê Thị L chiếm dụng, xây dựng bất hợp pháp (thuộc một phần thửa đất số 30, tờ bản đồ số 143 Bản đồ địa chính Phường A, Quận H), một phần thuộc ranh Dự án khu nhà ở thương mại P, Phường A, Quận H do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S làm chủ đầu tư là 15,23m², một phần thuộc lộ giới đường B là 51,72m².

Vì vậy, ngày 18 tháng 8 năm 2022 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận H1 ban hành Quyết định số 229/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bà Lê Thị L do đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính: lấn chiếm đất phi nông nghiệp tại khu vực đô thị (quy định tại điểm a, khoản 4 và khoản 5 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai) đối với phần đất thuộc lộ giới đường B có diện tích 51,72m² là đúng quy định pháp luật.

2. Về Quyết định số 244/QĐ-SĐBS ngày 31/8/2022 của Chủ tịch H1 về việc sửa đổi, bổ sung một phần quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính.

Ngày 18 tháng 8 năm 2022, Chủ tịch H1 ban hành Quyết định số 229/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bà Lê Thị L do đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính: lấn chiếm đất phi nông

nghiệp tại khu vực đô thị (quy định tại điểm a, khoản 4 và khoản 5 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai). Qua kiểm tra Quyết định số 229/QĐ-XPVPHC, Chủ tịch H1 nhận thấy có nội dung chưa phù hợp nên ban hành Quyết định số 244/QĐ-SĐBS ngày 31 tháng 8 năm 2022 của Chủ tịch H1 về việc sửa đổi, bổ sung một phần quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính để sửa đổi, bổ sung một phần Quyết định số 229/QĐ-XPVPHC.

Căn cứ Điều 14 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, Chủ tịch H1 ban hành Quyết định số 244/QĐ-SĐBS ngày 31 tháng 8 năm 2022 về việc sửa đổi, bổ sung một phần quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.

3. Về Quyết định số 387/QĐ-CCXP ngày 29/12/2022 của Chủ tịch H1 về việc cưỡng chế buộc khắc phục hậu quả đối với bà Lê Thị L.

Căn cứ Quyết định số 229/QĐ-XPVPHC ngày 18/8/2022 của Chủ tịch H1 về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và Quyết định số 244/QĐ-SĐBS ngày 31 tháng 8 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận H1 về việc sửa đổi, bổ sung một phần quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính có nội dung:

“Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm đối với các hành vi vi phạm tại các khoản 4 và khoản 5 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và buộc trả lại đất đã chiếm.

Thời gian thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả là 30 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định này.”

Qua quá trình vận động hộ bà Lê Thị L chấp hành Quyết định xử phạt và tự nguyện thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả nhưng vẫn không chấp hành.

Căn cứ Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Chủ tịch H1 ban hành Quyết định số 387/QĐ-CCXP ngày 29 tháng 12 năm 2022 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.

Căn cứ điểm a khoản 7 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và buộc trả lại đất đã chiếm.

“7. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm đối với các hành vi vi phạm tại các khoản 1, 2, 3, 4 và khoản 5 của Điều này và buộc trả lại đất đã lấn, chiếm; trừ trường hợp trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản này;"

Chủ tịch H1 ban hành Quyết định số 387/QĐ-CCXP ngày 29 tháng 12 năm 2022 về việc cưỡng chế buộc khắc phục hậu quả đối với bà Lê Thị L là đúng quy định pháp luật.

Từ những cơ sở trên, Chủ tịch H1 nhận thấy việc ban hành Quyết định số 229/QĐ-XPVPHC ngày 18/8/2022 của Chủ tịch H1 về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bà Lê Thị L; Quyết định số 244/QĐ-SĐBS ngày 31/8/2022 của Chủ tịch H1 về việc sửa đổi, bổ sung một phần quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính; Quyết định số 387/QĐ-CCXP ngày 29 tháng 12 năm 2022 của Chủ tịch H1 về việc cưỡng chế buộc khắc phục hậu quả đối với bà Lê Thị L là đúng theo quy định pháp luật.

Vì vậy, Chủ tịch H1 yêu cầu Tòa án bác yêu cầu khởi kiện: hủy Quyết định số 229/QĐ-XPVPHC ngày 18/8/2022 của Chủ tịch H1 về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bà Lê Thị L; Quyết định số 244/QĐ-SĐBS ngày 31/8/2022 của Chủ tịch H1 về việc sửa đổi, bổ sung một phần quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính; Quyết định số 387/QĐ-CCXP ngày 29 tháng 12 năm 2022 của Chủ tịch H1 về việc cưỡng chế buộc khắc phục hậu quả đối với bà Lê Thị L” do bà Lê Thị L, địa chỉ số D đường P, Phường A, Quận H khởi kiện.

* Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 2380/2023/HC-ST ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:

Áp dụng: Điều 116, Điều 173, điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố Tụng Hành chính năm 2015; Điều 100, 101 Luật đất đai năm 2013; khoản 4, 5 Điều 14, khoản 2 Điều 38 Nghị định 91/2019/CP ngày 19/11/2019 về XP VPHC trong lĩnh vực đất đai; Điều 57, 66, 68, 70, 78, 85 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;

Xử: Không chấp nhận khởi kiện của bà Lê Thị L yêu cầu hủy Quyết định số 229/QĐ-XPVPHC ngày 18/8/2022, được sửa đổi bởi Quyết định số 244/QĐ-SĐBS ngày 31/8/2022 về xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định số 387/QĐ-CCXP ngày 29/12/2022 về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận H1, Thành phố Hồ Chí Minh

ban hành.

Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, công khai bản án, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 21/11/2023, bà Lê Thị L kháng cáo toàn bộ bản án hành chính sơ thẩm số 2380/2023/HC-ST ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau:

Bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà L là có căn cứ và đúng pháp luật. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1]. Xét về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của bà Lê Thị L cho thấy:

Chứng cứ đã thu thập xác định: phần đất do bà Lê Thị L chiếm dụng, xây dựng bất hợp pháp bị XPVPHC có nguồn gốc thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 143 (Bản đồ địa chính Phường A) thuộc thửa đất số 248, tờ thứ 2 (Tài liệu 02/CT-UB) do ông (bà) Nguyễn Ngọc Á đăng ký theo Sổ Mục kê đất năm 1995. Trước năm 1975, ông Nguyễn Ngọc Á mua khu đất trên và trồng cây lâu năm. Sau năm 1976, H1 (trước đây là UBND Phường 22 Quận H) mượn khu đất làm sân bóng đá.

Ngày 24/12/2001, UBND Thành phố H1 ban hành Quyết định số 8746/QĐ-UB về việc điều chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại số 2546/1999/QĐ-UB-TD theo hướng:

- Công nhận cho H1 sử dụng công ích 2.104m² diện tích thuộc thửa 248-2 tờ bản đồ thứ 2 Bộ địa chính Phường A, Quận H theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 70538/ĐĐBĐ ngày 08 tháng 10 năm 2001 do Đoàn đo đạc bản đồ (Sở Địa chính - Nhà đất) lập.

- Công nhận cho ông Nguyễn Ngọc Á sử dụng công ích 2.104m² diện tích thuộc thửa 248-1 tờ bản đồ thứ 2 Bộ địa chính Phường A, Quận H theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 70538/ĐĐBĐ ngày 08 tháng 10 năm 2001 do Đoàn đo đạc bản đồ (Sở Địa chính - Nhà đất) lập.

- Phần diện tích còn lại khoảng 941m² thuộc lộ giới đất đường G quy hoạch 20m.

Ông Á đã được H1 cấp GCN QSDĐ số 00805QSDĐ/345/QĐ-UB ngày 24/01/2003 với diện tích 2.104m². Năm 2004, Ông Á chuyển nhượng QSDĐ cho hộ bà Vũ Ninh H.

Mặt khác, ngày 03/11/2010, H1 có Công văn số 5609/UBND-ĐTMT chấp thuận cho Công ty Cổ phần X (gọi tắt là công ty X) đầu tư xây dựng chung cư tại Phường A, Quận H;

Theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 41496/GĐ-TNMT được Sở T2 duyệt ngày 13/5/2011, Công ty X được giao diện tích 2.104m², thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 143 theo tài liệu Bản đồ địa chính 2002; theo đó thể hiện, phần đất phía Đông (mặt tiền dự án) là đất trống, tiếp giáp với đường B (thuộc lộ giới quy hoạch đường B 20m).

Năm 2020, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S (gọi tắt là Công ty S) đã nhận chuyển nhượng và chỉnh lý biến động toàn bộ 2.104m² đất từ Công ty X, bao gồm 13 Giấy chứng nhận QSDĐ. Và đồng thời làm chủ đầu tư dự án khu nhà ở thương mại P, Phường A, Quận H (theo Quyết định chủ trương đầu tư số 293/QĐ-UBND ngày 25/01/2021 của UBND Thành phố H1).

Tại Biên bản kiểm tra ngày 08/6/2012 do H1 lập, thì Dự án khu nhà ở thương mại P, Phường A, Quận H, ghi nhận không có công trình xây dựng lấn chiếm đất.

Đến ngày 05/8/2022 Công chức H1, Quận H lập biên bản VPHC đối với bà L về hành vi lấn, chiếm đất Phi nông nghiệp tại Đô thị, diện tích 66.95m² tại vị trí không số, cạnh nhà số A P, phường A, Quận H thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ 143 – BĐĐC;

Tại bản vẽ do Công ty trách nhiệm hữu hạn X1 Thành Công lập ngày 05/8/2023, có chứng kiến của UBND phường H1, Quận H vào ngày 08/ 8/ 2023, thì công trình xây dựng nhà ở thuộc vị trí nêu trên có diện tích 66.95m², nhưng phần vi phạm thuộc lộ giới là 51.72m².

Như vậy, phía bà L sử dụng đất nhưng không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc nhận chuyển quyền từ ông Nguyễn Văn M (hay còn gọi là Tư Hải D). Về thời điểm sử dụng đất, xây nhà ở của bà L khai xây cất vào năm 1990, nhưng không có gì chứng minh. Các con của ông M và những hộ dân cư xung quanh làm chứng về việc bà L sử dụng đất năm 1990, trong khi bà L không kê khai nhà đất theo chủ trương của H1 theo Quyết định 3376/QĐ-UBND năm 1999; các hợp đồng thuê sử dụng nước thực hiện vào năm 2014, không nộp thuế nhà đất hàng năm. Xét một trong các điều kiện để được công nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà, theo quy định pháp luật thì thời điểm sử dụng phải trước ngày 01/7/2004.

[2]. Từ phân tích trên có đủ cơ sở xác định: bà Lê Thị L đã chiếm dụng, xây dựng bất hợp pháp (thuộc một phần thửa đất số 30, tờ bản đồ số 143 Bản đồ địa chính Phường A, Quận H) một phần đất thuộc ranh Dự án khu nhà ở thương mại P, Phường A, Quận H do Công ty S làm chủ đầu tư là 15,23m², một phần thuộc lộ giới đường B là 51,72m². Mức phạt tiền tương ứng 30.000.000 đồng, buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, trả lại đất đã chiếm là phù hợp khoản 4, 5, điểm a khoản 7 Điều 14 Nghị định 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt trong lĩnh vực đất đai.

Chủ tịch H1 ban hành quyết định XPVPHC số 229/QĐ-XPVPHC ngày 18/8/2022, được sửa đổi bởi Quyết định sửa đổi số 244/QĐ-SĐBS ngày 31/8/2022 là đúng pháp luật.

[3]. Căn cứ ban hành Quyết định số 387/QĐ-CCXP ngày 29/12/2022 của Chủ tịch H1 về cưỡng chế buộc khắc phục hậu quả đối với bà Lê Thị L.

Quá trình vận động bà L không chấp hành Quyết định xử phạt và không tự nguyện thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 85, điểm a khoản 1 Điều 87, Chủ tịch UBND Quận 8 ban hành Quyết định số 387/QĐ-CCXP ngày 29/12/2022 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là phù hợp.

[4]. Từ những nhận định và phân tích trên cho thấy, việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L là có căn cứ và đúng pháp luật. Yêu cầu kháng cáo của bà L là không có cơ sở để chấp nhận.

[5] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[6] Do kháng cáo không được chấp nhận, vì vậy bà L phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị L.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 2380/2023/HC-ST ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Áp dụng: Điều 116, Điều 173, điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố Tụng Hành chính năm 2015; Điều 100, 101 Luật đất đai năm 2013; khoản 4, 5 Điều 14, khoản 2 Điều 38 Nghị định 91/2019/CP ngày 19/11/2019 về XP VPHC trong lĩnh vực đất đai; Điều 57, 66, 68, 70, 78, 85 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;

Xử:

1. Không chấp nhận khởi kiện của bà Lê Thị L yêu cầu hủy Quyết định số 229/QĐ-XPVPHC ngày 18/8/2022, được sửa đổi bởi Quyết định số 244/QĐ-SĐBS ngày 31/8/2022 về xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định số 387/QĐ-CCXP ngày 29/12/2022 về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận H1, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành.

2. Án phí hành chính phúc thẩm: Bà Lê Thị L nộp 300.000 đồng. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm nộp theo biên lai thu số 0001196 ngày 18/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. HCM;
  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Cục THADS TP. HCM;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: DS, VP, 16b NThuy.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Công Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 757/2024/HC-PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 757/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Loan
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger