Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 756/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 08-4-2025

V/v: “Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ GHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Gái;

2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Kim Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 2964/2024/HNST ngày 19 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2311/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyên Thị D, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Căn hộ E Vinhomes G - Khu M, Số F Đường D Dự án Khu dân cư và Công viên P, Khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Đoàn Văn T, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Căn hộ E Vinhomes G - Khu M, Số F Đường D Dự án Khu dân cư và Công viên P, Khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên hệ: Địa chỉ: Tòa P, Vinhomes C, B N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bà D, ông T có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị D1 trình bày như sau: Bà và ông Đoàn Văn T tự nguyện kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân phường P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thời gian đầu chung sống giữa bà và ông T chung sống với nhau hạnh phúc, tuy nhiên sau đó hai vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do có nhiều bất đồng trong quan điểm sống, không có tiếng nói chung suốt nhiều năm, cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt và bế tắc, cả hai không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Do nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị D1 và ông Đoàn Văn T có 01 (một) con chung tên Đoàn Nguyễn Minh Đ (giới tính: nam) sinh ngày 16/01/2016. Bà D1 đề nghị được nuôi con chung là trẻ Đoàn Nguyễn Minh Đ và không yêu cầu ông T cấp dưỡng tiền nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung: Bà D1 khai không có và không yêu cầu giải quyết.

Theo Bản tự khai, bị đơn ông Đoàn Văn T trình bày như sau: Ông T thống nhất với bà Nguyễn Thị D1 về thời điểm đăng ký kết hôn, phát sinh mâu thuẫn. Nay tình cảm vợ chồng không còn, bà D1 đề nghị ly hôn ông T đồng ý.

Về con chung: Ông Đoàn Văn T và bà Nguyễn Thị D1 có 01 (một) con chung tên Đoàn Nguyễn Minh Đ (giới tính: nam) sinh ngày 16/01/2016. Ông T đồng ý giao con chung là trẻ Đoàn Nguyễn Minh Đ cho bà D1 trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Theo Văn bản trình bày ý kiến, trẻ Đoàn Nguyễn Minh Đ trình bày như sau: Con muốn ở với mẹ là Nguyễn Thị D1.

Tại phiên tòa: Bà Nguyễn Thị D1, ông Đoàn Văn T có đơn xin vắng mặt nên không có lời trình bày tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà D1 khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông T nên xác định là quan hệ tranh chấp về việc ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Bà Nguyễn Thị D1 là nguyên đơn và ông Đoàn Văn T là bị đơn vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt bà D1 và ông T.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bà Nguyễn Thị D1 và ông Đoàn Văn T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 114/2015, quyển số 01/2015, ngày 31/12/2015 của Ủy ban nhân dân phường P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế nên xác định hôn nhân của bà D1 và ông T là hợp pháp. Bà D1 trình bày, trong thời gian chung sống với ông T do có nhiều bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không quan tâm đến nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T có bản tự khai trình bày ý kiến thống nhất với bà Nguyễn Thị D1 về thời điểm đăng ký kết hôn, phát sinh mâu thuẫn và đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà D1. Từ những nhận định trên cho thấy mối quan hệ hôn nhân của bà D1 và ông T đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau, bà D1 đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không hàn gắn được do đó yêu cầu ly hôn của bà D1 là có cơ sở để chấp nhận.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị D1 và ông Đoàn Văn T có 01 (một) con chung tên Đoàn Nguyễn Minh Đ (giới tính: nam) sinh ngày 16/01/2016. Bà D1 đề nghị được nuôi con chung là trẻ Đoàn Nguyễn Minh Đ và không yêu cầu ông T cấp dưỡng tiền nuôi con. Ông Đoàn Văn T có bản tự khai trình bày, đồng ý giao con chung cho bà D1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và không cấp dưỡng nuôi con chung. Tại văn bản trình bày ý kiến, trẻ Đoàn Nguyễn Minh Đ thể hiện mong muốn sống với mẹ là bà Nguyễn Thị D1: “Con muốn ở với mẹ con là Nguyễn Thị D1”. Do đó, yêu cầu được nuôi con chung là trẻ Đoàn Nguyễn Minh Đ và không yêu cầu ông T cấp dưỡng tiền nuôi con của bà D1 là có cơ sở chấp nhận.

Tài sản chung và nợ chung: Bà D1 khai không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Bà D1 chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ông T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 243, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D1:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị D1 được ly hôn với ông Đoàn Văn T.

    (Giấy chứng nhận kết hôn số 114/2015, quyển số 01/2015, ngày 31/12/2015 của Ủy ban nhân dân phường P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế không còn giá trị pháp lý)

  2. Về con chung: Ông Đoàn Văn T và bà Nguyễn Thị D1 có 01 (một) con chung tên Đoàn Nguyễn Minh Đ (giới tính: nam) sinh ngày 16/01/2016. Giao trẻ Đoàn Nguyễn Minh Đ cho bà D1 tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi trưởng thành. Không yêu cầu ông T cấp dưỡng tiền nuôi con.

    Ông T được quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con, người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.

    Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên.

    Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo qui định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

  3. Tài sản chung và nợ chung: Bà D1 và ông T tự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị D1 phải chịu án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà D1 đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0068045 ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà D1 đã nộp đủ án phí. Ông Đoàn Văn T không phải chịu án phí.
  5. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

    Bà Nguyễn Thị D1 và ông Đoàn Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM
  • - VKSND Tp.Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS Tp. Thủ Đức;
  • - UBND phường Phú Diên, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 756/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 756/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger