Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 756/2024/HS-PT

Ngày: 28 - 8 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Thanh Dũng

Ông Ngô Mạnh Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 530/2024/TLPT-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Dần . Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2024/HS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn D, sinh năm 1963, tại Quảng Trị.

Nơi thường trú: ấp H, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Công chứng viên. Bị tạm đình chỉ hành nghề công chứng viên theo Quyết định số 253/QĐ-STP ngày 09/11/2022 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận và đã bị miễn nhiệm công chứng viên từ ngày 21/12/2023 theo Quyết định số 2961/QĐ-BTP ngày 21/12/2023 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Trình độ học vấn: 12/12; Tiền án, tiền sự: không; Cha: Nguyễn T (sinh năm 1935), nơi cư trú: xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị; Mẹ: Nguyễn Thị H (đã chết); Gia đình có 08 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Trần Thị M (sinh năm 1969), hiện trú tại: ấp H, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2002.

Bị cáo Nguyễn D đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú có mặt).

(Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Lê Thị N, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thị N, sinh năm 1978, nơi cư trú thôn F, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận đã thực hiện các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Cụ thể như sau:

- Vụ thứ nhất:

Khoảng đầu năm 2019, Lê Thị N mua 01 xe ô tô, loại xe Toyota Fortuner 07 chỗ, biển số 51G-786.17, được Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố H cấp giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 438766, ngày 29/01/2019, tên chủ xe là Lê Thị N. Ngày 30/01/2019, Lê Thị N mang xe ô tô biển số 51G-786.17 đến Ngân hàng thương mại cổ phần Q (V), địa chỉ số D, đường C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh thế chấp xe ô tô để vay số tiền 820.000.000 đồng. Hợp đồng thế chấp xe ô tô biển số 51G-786.17, có quy định Nghĩa không được bán, thế chấp, tặng cho xe ô tô biển số 51G-786.17 khi chưa được sự đồng ý của Ngân hàng V; Ngân hàng V giữ lại bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 438766 và giao xe ô tô biển số 51G-786.17 cho Lê Thị N sử dụng. Lê Thị N đã trả nợ vay theo kỳ tại Ngân hàng V đến ngày 25/12/2020, tổng số tiền gốc đã trả là 206.230.517 đồng và tiền lãi 130.652.846 đồng. Số tiền đã vay (tiền gốc) chưa trả cho Ngân hàng V đến ngày 25/12/2020 là 613.769.483 đồng, hiện nay vẫn chưa trả số tiền 613.769.483 đồng này cho ngân hàng.

Sau khi đem xe ô tô biển số 51G-786.17 thế chấp cho Ngân hàng V, Lê Thị N đem xe ô tô biển số 51G-786.17 cho một người đàn ông (chưa xác định họ tên, địa chỉ) thuê. Khi người đàn ông này trả lại xe ô tô thì có đưa thêm cho N 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 438766 giả có nội dung như giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 438766 thật cấp cho xe ô tô biển số 51G-786.17 mà Ngân hàng V đang giữ. Ngày 10/5/2021, Lê Thị N đã sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 438766 giả làm phương tiện để thỏa thuận bán xe ô tô biển số 51G-786.17 đang thế chấp tại Ngân hàng V cho ông Trương Tấn A (sinh năm 1984, nơi cư trú khu phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận) với số tiền 700.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân, N không thông báo cho Ngân hàng V biết về việc bán xe ô tô biển số 51G-786.17 đã thế chấp. Ông Trương Tấn A không biết xe ô tô biển số 51G-786.17 đã thế chấp Ngân hàng V. Khi mua xe, ông A kiểm tra thấy giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 438766, đứng tên chủ xe Lê Thị N nên đồng ý mua xe với số tiền 700.000.000 đồng. Sau đó, ông Trương Tấn A sử dụng xe ôtô và mang giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô đi sang tên chủ sở hữu thì phát hiện xe ô tô biển số 51G-786.17 đang thế chấp tại Ngân hàng V nên trình báo cơ quan Công an và giao nộp giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 438766 giả. Đối với xe ôtô biển số 51G-786.17, ông Trương Tấn A đã bán cho một người tên H1 (không rõ lai lịch, họ tên, địa chỉ) với giá 100.000.000 đồng, không làm giấy tờ mua bán. Hiện ông Trương Tấn A không còn quản lý, sử dụng xe ô tô biển số 51G – 78617 và Cơ quan điều tra cũng không thu giữ được (bút lục số: 160, 161, 276-295, 306-309, 311, 312).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã trưng cầu giám định giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 438766 do ông Trương Tấn A giao nộp.

Tại bản Kết luận giám định số 387/KL-PC09 ngày 20/4/2022 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 438766 là giả. (Bút lục số:299)

Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã thu giữ 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 438766 là giả, kèm theo hồ sơ vụ án.

- Vụ thứ hai:

Vào năm 2017, Lê Thị N nhận cầm cố của một người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ) 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là giấy CNQSDĐ) số AH546144, do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 10/01/2008, mang tên bà Phan Thị B, sinh năm 1970, trú tại khu phố F, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (cụ thể: bà B nhận tặng cho và được cập nhật biến động vào trang 4 giấy CNQSDĐ ngày 29/01/2008), địa chỉ thửa đất ở khu phố F, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận với số tiền 200.000.000 đồng. Sau đó, N nảy sinh ý định chỉnh sửa nội dung trong giấy CNQSDĐ số AH546144 mang tên Phan Thị B sang tên của mình để lừa bán đất cho người khác lấy tiền tiêu xài. N tìm thông tin trên mạng xã hội Facebook liên hệ với 01 người không rõ họ tên ở Thành phố Hồ Chí Minh thỏa thuận gửi giấy CNQSDĐ số AH546144 (Bản chính) để chỉnh sửa nội dung theo yêu cầu của N với số tiền 17.000.000 đồng. Khoảng 10 ngày sau, N nhận lại qua đường bưu điện giấy CNQSDĐ số AH546144 đã được tẩy xóa, chỉnh sửa tại trang 4 của Giấy chứng nhận có nội dung: “Bà: Lê Thị N, sinh năm: 1978, số chứng minh nhân dân: [...], cấp ngày 25/04/2005 tại Công an T2. Địa chỉ thường trú: Phường A, Q.B, TP . Hồ Chí Minh. Thành phố phan thiết, tỉnh Bình Thuận nhận tặng cho theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được chứng thực tại UBND P.Đức Thắng, số chứng thực 02, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 18/01/2008”.

Đến tháng 10 năm 2020, Lê Thị N gặp ông Mai Huy T1 (sinh năm 1983, trú tại: khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận), N lấy giấy CNQSDĐ số AH546144 đã được tẩy xóa, sửa chữa đưa cho ông T1 xem và nói bán cho T1 thửa đất tại khu phố F, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo giấy CNQSDĐ số AH546144 với giá 750.000.000 đồng, ông Mai Huy T1 xem giấy CNQSDĐ số AH546144 thấy đứng tên Lê Thị N nên đồng ý mua.

Ngày 21/10/2020 Lê Thị N và ông Mai Huy T1 đến Văn phòng C1, địa chỉ số G đại lộ H, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận công chứng hợp đồng chuyển nhượng thửa đất theo giấy CNQSDĐ số AH546144. Sau khi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng, ông T1 đã đưa cho N số tiền 750.000.000 đồng.

Ông T1 mang giấy CNQSDĐ số AH546144 về nhà cất giữ, sau đó mang đi sang tên cập nhật biến động thì phát hiện phía sau Giấy CNQSDĐ số AH546144 phần biến động đứng tên Lê Thị N bị sửa chữa, tẩy xóa nên làm đơn tố cáo N đến cơ quan Công an.

(Bút lục số: 49-54, 74-77, 95,97-100, 162-165, 172, 173)

Tại bản Kết luận giám định số 1005/KLGĐ-PC09 ngày 24/8/2021 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

- “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” số: AH546144 (ký hiệu A) là thật.

- Tại phần “VI-Những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” dưới mục “Nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý” có nội dung: “Bà: Lê Thị N, sinh năm: 1978, số chứng minh nhân dân: [...], cấp ngày 25/04/2005 tại Công an TP,Hồ Chí M1 . Địa chỉ thường trú: Phường A, Q.B, TP . Hồ Chí Minh” trên “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” số AH546144 (ký hiệu A) đã bị tẩy xóa, sửa chữa, không xác định được nội dung nguyên thủy” (Bút lục: 45).

Biên bản xác minh ngày 08/02/2021 tại Chi nhánh Văn phòng Đ xác định:

Thửa đất theo Giấy CNQSDĐ số AH546144 thuộc quyền sử dụng của bà Phan Thị B (sinh năm 1970, trú tại: Khu phố F, phường Đ, TP P, tỉnh Bình Thuận), cụ thể bà B nhận tặng cho thửa đất nói trên từ ngày 29/01/2008 cho đến nay. Riêng đối với bà Lê Thị N thì từ trước đến nay không nhận chuyển nhượng thửa đất nói trên. (Bút lục: 48)

Bà Phan Thị B khai: Bà B cùng với chồng và con sinh sống từ trước đến nay trên mảnh đất thuộc phường Đ, thành phố P có giấy CNQSDĐ số AH546144 đứng tên Phan Thị B do cha mẹ ruột tặng cho; hiện đang ở trên mảnh đất này. Năm 2016 bà B đã làm mất giấy CNQSDĐ số AH546144 và đã trình báo tại Ủy ban nhân dân phường Đ về việc mất giấy CNQSDĐ số AH546144; hiện bà B vẫn chưa làm thủ tục để xin cấp lại giấy CNQSDĐ bị mất.

Nguyễn D được bổ nhiệm Công chứng viên theo Quyết định số 2406/QĐ-BTP ngày 15/9/2010 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, hoạt động công chứng tại Văn phòng C2 Ngày 21/10/2020, Nguyễn D đã thiếu trách nhiệm, không kiểm tra kỹ thông tin ghi trong giấy CNQSDĐ số AH546144 mà công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Lê Thị N và ông Mai Huy T1; mặc dù chỉ nhìn bằng mắt thường là có thể phát hiện nội dung giấy CNQSDĐ số AH546144 đã bị sửa chữa, tẩy xóa, sự bất hợp lý về địa chỉ của người sử dụng đất ghi trong giấy CNQSDĐ số AH546144. Việc Nguyễn D công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Lê Thị N và ông Mai Huy T1 đã tạo điều kiện cho Lê Thị N chiếm đoạt số tiền 750.000.000 đồng của ông Mai Huy T1.

Sau khi biết được sự việc Lê Thị N dùng giấy CNQSDĐ số AH546144 đã tẩy xóa, sửa chữa để bán cho ông Mai Huy T1 chiếm đoạt tiền thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Nguyễn D ký công chứng, Nguyễn D đã tự nguyện trả cho Mai Huy T1 số tiền 496.000.000 đồng thay cho Lê Thị N để khắc phục hậu quả.

(Bút lục số: 93, 94, 190, 192, 193, 201, 245-248)

* Vật chứng vụ án:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã thu giữ 01 Giấy CNQSDĐ số AH546144 bị sửa chữa, tẩy xóa, kèm theo hồ sơ vụ án (Bút lục số: 49, 50).

* Về phần dân sự:

Bị hại Mai Huy T1 đã nhận số tiền 254.000.000 đồng từ gia đình Lê Thị N, nhận số tiền 496.000.000 đồng từ Nguyễn D và không yêu cầu bồi thường gì thêm về phần dân sự. (Bút lục số: 101, 264, 266)

Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định được, ngoài lần sử dụng giấy CNQSDĐ số AH546144 bị tẩy xóa, sửa chữa để lừa bán cho ông Mai Huy T1 chiếm đoạt số tiền 750.000.000 đồng; trước đó vào ngày 09/02/2018 Lê Thị N đã sử dụng giấy CNQSDĐ số AH546144 bị tẩy xóa, sửa chữa để cầm cố cho bà Lê Thị B1 (sinh năm 1981, trú tại khu phố B, phường H, thành phố P) để vay số tiền 50.000.000 đồng bằng hình thức làm hợp đồng giả cách chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy CNQSDĐ số AH546144 cho bà B1; được Công chứng viên Trương Văn C thuộc Văn phòng C3 ký công chứng hợp đồng. Ngày 12/3/2018 Lê Thị N đến Văn phòng C3 hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trả lại số tiền 50.000.000 đồng cho bà Lê Thị B1.

Ngày 12/3/2018 Lê Thị N đã sử dụng giấy CNQSDĐ số AH546144 bị tẩy xóa, sửa chữa cầm cố cho bà Lục Thị H2 (sinh năm 1972, trú tại khu phố C, phường Đ, thành phố P) để vay số tiền 200.000.000 đồng bằng hình thức làm hợp đồng giả cách chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy CNQSDĐ số AH546144 cho bà H2; được Công chứng viên Huỳnh Thị Mỹ L thuộc Phòng C4 - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận ký công chứng hợp đồng. Ngày 15/10/2020 Lê Thị N đến Phòng C4 hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trả lại số tiền 200.000.000 đồng cho bà H2.

Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSBT-P1 ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố ra trước Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận để xét xử các bị cáo:

Lê Thị N về các tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự; tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự; tội “Sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 340 Bộ luật Hình sự; tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Nguyễn D về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điểm c khoản 2 Điều 360 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận quyết định:

Căn cứ vào: điểm c khoản 2 Điều 360; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn D phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn D 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/5/2024).

Giao bị cáo Nguyễn D cho UBND xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Lê Thị N, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20/5/2024, bị cáo Nguyễn D có đơn kháng cáo với nội dung xin được miễn trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn D thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu, vẫn giữ kháng cáo xin được miễn trách nhiệm hình sự với lý do tại thời điểm bị cáo bị truy tố thì thiệt hại do hành vi thiếu trách nhiệm của bị cáo gây ra không còn do đã được khắc phục toàn bộ, bị hại cũng có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, hai trường hợp có sai sót tương tự như bị cáo đối với việc công chứng giao dịch liên quan giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 546144 xảy ra trước đó tại hai tổ chức hành nghề công chứng khác cũng đối với việc nhưng do không xảy ra thiệt hại đều không bị khởi tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Nhận thấy tính chất, mức độ và hành vi của bị cáo D là nghiêm trọng, gây ra hậu quả lớn. Hành vi của bị cáo ảnh hưởng xấu đến hoạt động của Văn phòng công chứng. Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầu đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt và xử phạm bị cáo 1 năm tù và cho hưởng án treo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cho rằng bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm cho bị cáo nhưng không đủ căn cứ để xem xét miễn trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn D thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo được thẩm tra công khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, với lời khai của Lê Thị N, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở để xác định như sau:

[2.1] Vào năm 2017, Lê Thị N có nhận cầm cố 01 giấy CNQSDĐ số AH546144 mang tên Phan Thị B, N đã thuê đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch tẩy xóa, chỉnh sửa nội dung giấy CNQSDĐ số AH546144 mang tên Phan Thị B sang tên của mình là Lê Thị N, sau đó N sử dụng giấy CNQSDĐ số AH546144 đã tẩy xóa, chỉnh sửa để bán cho ông Mai Huy T1 với giá 750.000.000 đồng. Ngày 21/10/2020, T1 và N đến Văn phòng C1 công chứng hợp đồng chuyển nhượng thửa đất theo giấy CNQSDĐ số AH546144.

Nguyễn D là Công chứng viên Văn phòng C1 đã thiếu trách nhiệm không kiểm tra kỹ, không đọc hết nội dung trong giấy CNQSDĐ số AH546144 nên không phát hiện được giấy CNQSDĐ đã bị tẩy xóa, chỉnh sửa và đã ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Lê Thị N và ông Mai Huy T1. Sau khi công chứng hợp đồng chuyển nhượng, ông T1 đã đưa cho N số tiền 750.000.000 đồng.

Như vậy, hành vi của bị cáo D đã tạo điều kiện cho Lê Thị N chiếm đoạt của ông Mai Huy T1 750.000.000 đồng.

[2.2] Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn D phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 360 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Dần .

[3.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đồng thời áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, từ đó chỉ xử phạt bị cáo 01 năm tù và cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách là 02 năm là phù hợp và cũng đã có áp dụng chính sách khoan hồng cho bị cáo.

[3.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin được miễn trách nhiệm hình sự với lý do tại thời điểm bị cáo bị truy tố thì thiệt hại do hành vi thiếu trách nhiệm của bị cáo gây ra không còn do đã được khắc phục toàn bộ, bị hại cũng có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, hai trường hợp có sai sót tương tự như bị cáo đối với việc công chứng giao dịch liên quan giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 546144 xảy ra trước đó tại hai tổ chức hành nghề công chứng khác cũng đối với việc nhưng do không xảy ra thiệt hại đều không bị khởi tố.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội nghiêm trọng do vô ý, đã khắc phục toàn bộ hậu quả nhưng bị hại chỉ có đơn xin rút đơn tố cáo (BL 104) chứ không có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo D nên chưa đủ điều kiện có thể được xem xét miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật hình sự.

Mặt khác, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; bị cáo được bổ nhiệm làm công chứng viên, có chức năng bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch, phòng ngừa tranh chấp, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội nhưng bị cáo lại lơ là, thiếu trách nhiệm khi thực hiện nhiệm vụ được giao, qua đó xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của tổ chức hành nghề công chứng và gián tiếp gây thiệt hại về tài sản cho bị hại. Hành vi của bị cáo có ý nghĩa quyết định đến việc N có chiếm đoạt được tiền của bị hại hay không, bởi lẽ Giấy CNQSDĐ số AH546144 bị tẩy xóa, chỉnh sửa thô sơ mà nhìn bằng mắt thường có thể phát hiện được nhưng chỉ vì chủ quan, không thực hiện đúng quy trình công chứng mà bị cáo không phát hiện và đã tiến hành công chứng hợp đồng, qua đó củng cố niềm tin của bị hại về thông tin gian dối do N đưa ra nên mới tiến hành giao tiền cho N, nếu bị cáo làm đúng chức năng nhiệm vụ theo quy định thì đã kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội của Lê Thị N, hậu quả cũng đã không xảy ra. Vì vậy, cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội, qua đó nâng cao ý thức, trách nhiệm của các tổ chức hành nghề công chứng nói chung và công chứng viên nói riêng, đặc biệt là trước tình hình hiện nay các tội phạm lừa đảo bằng phương thức sử dụng giấy tờ giả để công chứng các giao dịch chuyển quyền sở hữu nhằm chiếm đoạt tài sản ngày càng tăng với thủ đoạn ngày càng tinh vi.

Ngoài ra, bị cáo cho rằng hành vi của bị cáo có tính chất tương tự như hành vi của Công chứng viên Trương Văn C thuộc Văn phòng C3 và Công chứng viên Huỳnh Thị Mỹ L thuộc Phòng C4 - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Xét thấy, các Công chứng viên Trương Văn C và Huỳnh Thị Mỹ L đã có hành vi ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy CNQSDĐ số AH546144 đã bị tẩy xóa, chỉnh sửa mà nhìn bằng mắt thường có thể phát hiện được là vi phạm Luật Công chứng, tuy nhiên chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng do thiệt hại chưa xảy ra nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ. Còn đối với trường hợp của bị cáo đã gây ra thiệt hại về tài sản, việc bị cáo bồi thường cho bị hại chỉ mang tính chất khắc phục hậu quả nên không có tính tương tự với hai trường hợp nêu trên.

Do đó, kháng cáo xin được miễn trách nhiệm hình sự của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.

[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn D phải chịu theo quy định pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Dần . Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Tuyên xử:

[1] Căn cứ vào: điểm c khoản 2 Điều 360; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn D phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn D 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/5/2024).

Giao bị cáo Nguyễn D cho UBND xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

(Đã giải thích chế định án treo).

[2] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn D phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; (1)
  • - TAND tỉnh Bình Thuận; (2)
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận; (1)
  • - Công an tỉnh Bình Thuận; (1)
  • - Cục THA DS tỉnh Bình Thuận; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1). VP 05, 18b. (TTPT).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 756/2024/HS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

  • Số bản án: 756/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn D phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn D. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger