Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 756/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06-6-2024

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Kim Liên

2/ Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Như Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 1334/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 111/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Bích O, sinh năm 1996 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: 5 tổ A, khu phố B, phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Vỏ Tuấn P, sinh năm 1998 (vắng mặt).

Địa chỉ: A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/9/2023; Bản tự khai ngày 04/01/2024; Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 19/01/2024 và ngày 18/3/2024; Biên bản về việc không tiến hành hòa giải được ngày 19/01/2024 và ngày 18/3/2024, nguyên đơn bà Ngô Thị Bích O trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2020 bà và ông P tự nguyện tìm hiểu và tổ chức lễ cưới, hai bên có đăng ký kết hôn ngày 17/02/2021 tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.

Sau khi kết hôn, vợ chồng bà chung sống hạnh phúc ở bên nhà cha mẹ chồng địa chỉ A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến đầu năm 2021 vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên gây gỗ, xúc phạm lẫn nhau, ông P không chăm lo làm ăn mà thường xuyên tụ tập bạn bè, bà đã nhiều lần khuyên nhủ, hàn gắn nhưng không thành. Bà và ông P đã ly thân từ tháng 12/2021 đến nay. Hiện tại bà đang ở nhà cha mẹ ruột tại phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Còn ông P vẫn sống tại H. Trong thời gian ly thân, ông P cũng không lui tới thăm con, không hỗ trợ kinh tế để bà nuôi con mà bỏ mặc mẹ con bà sống sao thì sống. Nhận thấy cuộc sống chung không có hạnh phúc, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng khó hàn gắn, bản thân bà không còn tình cảm đối với ông P. Do vậy bà xin được ly hôn với ông P.

Về con chung: Bà và ông P có 01 con chung tên Võ Ngô Tố N, sinh ngày 14/6/2021. Hiện tại trẻ N đang ở với bà nên bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ N, không yêu cầu ông P cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung: Bà khai bà và ông P không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Vỏ Tuấn P, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Giấy triệu tập nhưng ông P không đến Tòa án để tham gia vụ kiện. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Ngô Thị Bích O có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Về phía bị đơn ông Vỏ Tuấn P, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn ông P vẫn vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến như sau:

*Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:

  • - Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về: Thẩm quyền thụ lý vụ án, về xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự, thời hạn gửi hồ sơ đến Viện kiểm sát, về thủ tục cấp, tống đạt văn bản tố tụng, về thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn gửi hồ sơ đến Viện kiểm sát.
  • - Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định về việc xét xử sơ thẩm vụ án được quy định tại các Điều 239, 243, 247, 248, 249, 250, 251, 252, 254, 258, 260 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đúng các Điều 70, 71, 72, 73, 85, 86 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn thực hiện không đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73, 85, 86 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • *Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Bích O.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

    Nguyên đơn bà Ngô Thị Bích O yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Vỏ Tuấn P. Đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn”, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là ông Vỏ Tuấn P hiện cư trú huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Về sự tham gia của các đương sự:

    Đối với nguyên đơn bà Ngô Thị Bích O: Sau khi cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, bà có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử nhận thấy việc vắng mặt của bà O không gây ảnh hưởng hoặc làm thay đổi nội dung vụ án và phù hợp với Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận.

    Đối với bị đơn ông Vỏ Tuấn P: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Giấy triệu tập; Quyết định đưa vụ án ra xét xử để thông báo thời gian mở phiên tòa vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 09/5/2024 nhưng ông P vắng mặt. Tòa án đã ra Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 06/6/2024 nhưng hôm nay ông P vẫn vắng mặt. Do vậy, Tòa án xét xử vắng mặt ông P là phù hợp với quy định Điều 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.

  3. Về quan hệ hôn nhân giữa bà Ngô Thị Bích O và ông Vỏ Tuấn P.

    Vào năm 2020 bà O và ông P tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, hai bên có tổ chức lễ cưới và sau đó đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, Tỉnh Vĩnh Long ngày 17/02/2021. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà O và ông P là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

    Theo lời trình bày của bà O thì sau khi đám cưới vợ chồng ông bà chung sống hạnh phúc. Đến đầu năm 2021 vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên gây gỗ, xúc phạm lẫn nhau, ông P không chăm lo làm ăn, bà đã nhiều lần khuyên nhủ, hàn gắn nhưng không thành. Bà và ông P đã ly thân từ tháng 12/2021 đến nay. Hiện tại bà đang ở nhà cha mẹ ruột tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống. Còn ông P vẫn sống tại H. Trong thời gian ly thân, ông P cũng không lui tới thăm con, không hỗ trợ kinh tế để bà chăm lo cho con nhỏ. Do cuộc sống chung không có hạnh phúc, giữa bà và ông P không còn quan tâm, tôn trọng và yêu thương nhau nữa nên bà xin được ly hôn với ông P.

    Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông Vỏ Tuấn P đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ án, nhưng ông P vắng mặt không lý do. Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Như vậy, ông P đã từ bỏ quyền chứng minh của mình, không đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ kiện. Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của bà O và những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ để làm cơ sở giải quyết vụ án. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà O và ông P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà O xin được ly hôn với ông P là có căn cứ chấp nhận.

  4. Về con chung: Bà O và ông P có 01 con chung tên Võ Ngô Tố N, sinh ngày 14/6/2021. Hiện tại trẻ N đang ở với bà O nên bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ N, không yêu cầu ông P cấp dưỡng tiền nuôi con.

    Căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

    Hội đồng xét xử xét thấy, hiện trẻ Võ Ngô Tố N còn rất nhỏ và đang do bà O trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Do vậy, để đảm bảo ổn định về mặt tâm lý cũng như sự phát triển toàn diện của trẻ về mọi mặt nên xét yêu cầu của bà O xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ N là có cơ sở chấp nhận.

    Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà O không yêu cầu ông P cấp dưỡng tiền nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  5. Về tài sản chung: Bà O khai bà và ông P không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  6. Về nợ chung: Bà O khai bà và ông P không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  7. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 203; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Bích O được ly hôn với ông Vỏ Tuấn P.
  2. Về con chung: Bà O và ông P có 01 con chung tên Võ Ngô Tố N, sinh ngày 14/6/2021.

Sau ly hôn, giao trẻ Võ Ngô Tố N cho bà Ngô Thị Bích O trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Vỏ Tuấn P cho đến khi bà Ngô Thị Bích O có đơn yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.

  1. 3/ Về tài sản chung: Bà O khai bà và ông P không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. 4/ Về nợ chung: Bà O khai bà và ông P không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. 5/ Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, bà Ngô Thị Bích O chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004500 ngày 28/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn. Bà O đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặn bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp.HCM;
  • - VKSND H.HM;
  • - Cơ quan THADS H.HM;
  • - UBND xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Mỹ Linh

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 756/2024/HNGĐ-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 756/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị Bích O yêu cầu ly hôn ông Vỏ Tuấn P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger