|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 755/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 26/8/2024
V/v: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa | Ông Vũ Thanh Tùng |
| Các Hội thẩm nhân dân | Bà Nguyễn Thị Cờ |
| Ông Nguyễn Hải Phùng | |
| Thư ký ghi biên bản phiên tòa | Bà Trân Phương Ly |
| Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội. | |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: | |
| Bà Phạm Thanh Thuý - Kiểm sát viên. | |
Hôm nay, ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa mở phiên tòa để xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 230/2024/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024; Về việc: “Tranh chấp xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2024/QĐXX-ST ngày 02/7/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 172/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/7/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1981
HKTT: C1 tổ B phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội; (có mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Viết P, sinh năm 1974
HKTT: C1 tổ B phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Viết P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại U, quận Đ, thành phố Hà Nội ngày 11/8/1999, cả hai đêu kết hôn lân đâu. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là sau khi kết hôn và chung sống anh P thường xuyên xay sỉn, đánh đập chửi bới chị, không có trách nhiệm với gia đình, vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Việc hai vợ chồng mâu thuẫn và chung sống không hạnh phúc cả hai bên gia đình đêu biết, đã hoà giải và hàn gắn tình cảm cho vợ chồng anh chị nhưng không có kết quả, anh chị đã ly thân từ năm 2016. Nay, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hành phúc nên chị H kiên quyết đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.
- Về con chung: Chị H xác nhận anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Minh A sinh ngày 10/8/2003, cháu Nguyễn Minh P1 sinh ngày 04/7/2000. Các con chung đã trưởng thành nên nếu được ly hôn, chị không yêu câu xem xét.
- Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị H xác nhận anh chị không có, ngoài ra chị H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề gì khác.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị tự nguyện chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành lập biên bản trao đổi với tổ trưởng dân phố số 32 phường Ô về tình trạng hôn nhân của chị H, anh P; Xác minh tại Công an phường Ô về tình hình cư trú hiện tại của anh P và được cung cấp anh P hiện không còn sinh sống tại địa chỉ C, tổ B Ô, quận Đ và không khai báo nơi chuyển đến. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và thông báo về quyền và nghĩa vụ tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà... để đảm bảo quyên và nghĩa vụ tố tụng cho anh P theo quy định của pháp luật nhưng anh P không đến Tòa án làm việc nên không có ý kiến trình bày liên quan đến nội dung vụ án.
Tại phiên toà:
Chị H trình bày mâu thuẫn như đã trình bày trong các buổi làm việc và hoà giải tại Toà án, chị cho biết mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, không tìm được tiếng nói chung và đã được hai gia đình hoà giải nhưng không thành, hiện anh chị đã ly thân nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với anh P. Về con chung: anh chị có 02 con chung đã trưởng thành nên chị không có yêu câu gì. Về tài sản và nhà ở chung, vay nợ chung, chị xác nhận anh chị không có và không yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định tại các Điêu 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định, thủ tục tại phiên tòa, đảm bảo quyên và nghĩa vụ của đương sự.
- Về nội dung: Xét mâu thuẫn của chị H, anh P đã kéo dài trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị H đối với anh Nguyễn Viết P.
- - Về con chung: anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Minh A sinh ngày 10/8/2003, cháu Nguyễn Minh P1 sinh ngày 04/7/2000. Các con chung đã trưởng thành nên không xem xét.
- - Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị H xác nhận anh chị không có nên không xét.
- - Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền:
- Vê quan hệ pháp luật: Xét đơn khởi kiện của chị Phạm Thị H xin ly hôn đối với anh Nguyễn Viết P là quan hệ tranh chấp về Hôn nhân gia đình được quy định tại khoản 1 Điêu 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Viết P có hộ khẩu thường trú tại quận Đ, thành phố Hà Nội, căn cứ điểm a, khoản 1, Điêu 35; Điểm a khoản 1 Điêu 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- Về tố tụng: Vê sự vắng mặt của bị đơn anh Nguyễn Viết P: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh Nguyễn Viết P nhưng anh P không đến Tòa án làm việc. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ tại Tổ trưởng dân phố, xác minh tại công an phường Ô nơi anh P cư trú tại C tổ B phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội đều xác định anh P hiện không còn sinh sống tại địa chỉ trên nhưng chưa cắt khẩu đến địa chỉ nào khác. Việc anh P không thông báo cho chị H biết địa chỉ hiện đang sinh sống cụ thể ở đâu thể hiện anh P đã cố tình giấu địa chỉ, do đó căn cứ theo khoản 3 điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, thông báo quyên và nghĩa vụ của đương sự bằng thủ tục niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và nghĩa vụ đối với anh P.
Tại phiên tòa lần thứ nhất anh P vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay anh P vắng mặt lần thứ hai không có lý do, căn cứ khoản 2 điêu 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
* Về quan hệ hôn nhân: Nhận thấy, chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Viết P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND phường U, quận Đ, Hà Nội ngày 11/8/1999, đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh P thường xuyên đánh đập chửi bới chị H và không có trách nhiệm vê kinh tế với gia đình, từ đó vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, anh chị đã ly thân nhau từ năm 2016. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành hoà giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng chị H, anh P nhưng không có kết quả do anh P không đến làm việc, xác minh tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh chị. Tại phiên toà, chị H vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với anh P. Xét thấy rằng, hiện vợ chồng anh chị đã ly thân nhau từ năm 2016, mỗi người ở một nơi, không ai quan tâm đến ai, biên bản xác minh tại tổ dân phố, tổ trưởng tổ dân phố xác nhận tại địa phương anh chị có mâu thuẫn. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, cho chị H được ly hôn với anh P là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điêu 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
* Về con chung: Chị H, anh P có 02 con chung là cháu Nguyễn Minh A sinh ngày 10/8/2003, cháu Nguyễn Minh P1 sinh ngày 04/7/2000. Các con chung đã trưởng thành, chị H không yêu câu giải quyết nên không xem xét.
* Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác: chị H xác nhận không có, nên không xem xét.
[3] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Vê quyên kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[5] Đê nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tại phiên tòa phù hợp với những nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 điều 28; điểm a, khoản 1 Điêu 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điêu 147; Điều 271; Điêu 273; Điêu 278; Điêu 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Điêu 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
- Điểm a, khoản 5, Điêu 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị H đối với anh Nguyễn Viết P. Chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Viết P.
- Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Viết P có 02 con chung là cháu Nguyễn Minh A sinh ngày 10/8/2003, cháu Nguyễn Minh P1 sinh ngày 04/7/2000. Các con chung đã trưởng thành, chị H không yêu câu giải quyết nên không xem xét.
- Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị Phạm Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
- Về các vấn đê khác: Chị Phạm Thị H không yêu cầu nên không xét.
- Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiên 300.000đồng tiên tạm ứng án chị H đã nộp theo biên lai số 00064346 ngày 23/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm, chị Phạm Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Viết P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thanh Tùng |
Bản án số 755/2024/HNGĐ - ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 755/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
