TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH Bản án số: 755/2025/DS-PT Ngày: 10-12-2025 V/v “tranh chấp quyền sử dụng đất" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tiền Phương
Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Hồng Mai
Ông Trần Tấn Quốc
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thùy Linh – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Phát - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03 và 10 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 445/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 04 tháng 08 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 668/2025/QĐ-PT ngày 30 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Tạ Ngọc P, sinh năm 1972; Địa chỉ cũ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (Nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp) (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Tạ Văn K, sinh năm 1968; Địa chỉ cũ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An; (Nay là ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh)
Người đại diện theo uỷ quyền của ông K, gồm:
- Bà Đậu Thị Q, sinh năm 1989; Địa chỉ: Căn hộ A, Tầng D Chung cư V, số B T, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
- Và/hoặc: 2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 2000; Địa chỉ: Tổ Dân phố I, xã C, tỉnh Lâm Đồng. (Có mặt)
(Theo Văn bản ủy quyền ngày 11/9/2025)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Dương C – Chức vụ: Trưởng Phòng Kinh tế Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt)
- Bà Trần Thị S, sinh năm 1966; Địa chỉ cũ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An; (Nay là Ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh) (Có mặt)
Người kháng cáo: Bị đơn ông Tạ Văn K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Nguyên đơn bà Tạ Ngọc P trình bày: Bà và ông Tạ Văn K có 2 thửa đất giáp ranh với nhau tọa lạc tại ấp A xã T, huyện T, tỉnh Long An (thuộc khu 96 ha); có chung nguồn gốc sử dụng đất là do ông Tạ Văn C1 –là cha ruột của bà và ông K (bệnh mất năm 2011) khi sinh thời đã khẩn hoang rồi chia lại cho các con (thời gian này UBND huyện chưa có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho dân tại khu 96 ha), khi đó đã có sẵn đường mương làm ranh giới giữa 2 thửa đất, tuyến mương này nằm hoàn toàn trên phần đất của bà ở hướng Bắc, cạnh phía ngoài mương tiếp giáp với phần đất của ông Tạ Văn K ở hướng Nam, do ranh giới đã rất rõ ràng nên không cần phải sử dụng thêm bất kỳ hình thức phân giới cắm mốc nào khác. Khi UBND huyện T có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở khu vực 96 ha cho những hộ dân đã canh tác lâu năm (với điều kiện phải hoàn trả chi phí đầu tư trên đất cho ngân sách nhà nước) thì UBND xã T đã tiến hành cùng các hộ dân đo đạc trên thực địa để làm thủ tục cấp đất. Từ giai đoạn này đã phát sinh vụ việc sau đây:
+ Khi tiến hành đo đạc ở 2 thửa đất liền kề giữa bà với ông K thì không có mặt bà tại đất, vì chính quyền địa phương đã không có bất kỳ hình thức nào thông báo trước cho bà với tư cách là người sử dụng đất kề, kể cả ông Tạ Văn K dù là anh ruột cũng không cho bà biết việc này (bà đang ở Tiền Giang, có địa chỉ cư trú rõ ràng). Ông K đã lợi dụng sự vắng mặt của bà trong ngày đo đạc để sử dụng trụ bê tông làm sai lệch ranh giới, trồng trụ vượt qua tuyến mương lấn sang phần đất của bà ngang 6,8m; dài 136,7m; diện tích 929,56m². Cán bộ đo đạc đã không thẩm tra kỹ mà dựa vào trụ bê tông này để lập bản mô tả (Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất do Địa chính xã T lập ngày 29/6/2021), sau đó gửi cho bà qua đường bưu điện để lấy chữ ký. Do trong văn bản này không thể hiện đặc điểm công trình thực địa tại ranh giới, chỉ ghi khái quát: “từ điểm 1 đến điểm 4: tất cả đều có trụ bê tông" thì bà nghĩ ông Tạ Văn K là anh ruột của mình, tin tưởng trụ bê tông sẽ được ông cặm đúng tại vị trígiáp ranh, do đó đã ký vào văn bản này và chuyển trả qua đường bưu điện. Đến khi bà nhận giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất trên thửa đất của mình (số giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất CY 759532, số vào số CH 40438, diện tích 21.429m², ngày cấp 11/02/2022, nơi cấp: UBND huyện T) thì mới phát hiện bị mất một phần diện tích từ sự lấn chiếm nêu trên của ông Tạ văn K. Như vậy việc ông Tạ Văn K làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (tại thửa đất số 44, tờ bản đồ số 13, diện tích 10.342 m²) liền kề với thửa đất của bà là không hợp pháp vì đã bao gồm việc lấn chiếm diện tích 929,56 m² thuộc quyền sử dụng của bà.
Trong quá trình giải quyết sự việc phạm vi nội bộ gia đình giữa 2 anh em, ông Tạ Văn K đã từng liên hệ với bà để dời lại trụ bê tông, trả lại phần đất đã lấn chiếm (bà có chứng cứ qua ghi âm từ điện thoại) nhưng thời điểm đó lại gặp trở ngại do cán bộ Địa chính xã (đ/c K) chuyển công tác về xã T, đến khi có thể thực hiện được thì ông lại đổi ý. Ông K cũng đã từng liên hệ với bà để yêu cầu nếu muốn nhận lại đất thì phải hỗ trợ một phần trong khoản tiền mà ông đã nộp ngân sách Nhà nước tương ứng với phần diện tích 929,56 m² nhưng bà từ chối vì cho rằng không thể làm theo cách giản đơn giao nhận tiền giữa hai bên như ông K đề nghị mà phải làm đúng quy trình thủ tục điều chỉnh về đất đai từ đó cơ quan chức năng mới tính ra số tiền phải nộp ngân sách nhà nước cho từng hộ.
Nay bà khởi kiện buộc ông Tạ Văn K phải hoàn trả lại cho bà phần đất đã lấn chiếm bất hợp pháp, để bà được đăng ký quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bà P thống nhất với diện tích tranh chấp là 815m2 theo Mảnh trích đo địa chính số 25-2023 ngày 15/6/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T (Nay là Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực T) và giá trị đất theo chứng thư thẩm định giá số 809.2023.VT-HS ngày 20/7/2023 của Công ty Cổ phần T. Đồng thời thống nhất với diện tích bà đang được cấp là 22.413,8m² và đồng ý giao phần diện tích tranh chấp là 815m2 cho ông K và yêu cầu ông K trả lại cho bà giá trị đất là 71.720.000đ theo chứng thư thẩm định giá số 809.2023.VT-HS ngày 20/7/2023 của Công ty Cổ phần T. Riêng phần giá trị cây cừ tràm trồng trên diện tích đất tranh chấp do trồng lấn trong việc trồng và khai khác tràm nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết phần cây trồng trên đất.
*Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn – ông Phan Văn C2 trình bày: Đất của ông K có nguồn gốc từ cha ông K là ông Tạ Văn C1. Năm 1998, UBND huyện ra quyết định buộc ông K chấm dứt việc bao chiếm trái phép của Trung tâm giáo dục, dạy nghề, nhưng ông K đã tiếp tục khiếu nại và sử dụng đến ngày 26/11/2021, UBND huyện T Quyết định số 7040/QĐ-UBND về phê duyệt chi phí đầu tư vào đất mà ông K phải trả cho nhà nước trong khu đất sử dụng thửa số 44, tờ bản đồ số 13, diện tích 10.342m2. Ngày đo đạc bà P đã ký giáp ranh với ông K và bà P đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay bà P tranh chấp thì ông K cho rằng ông K không lấn chiếm đất của bà P đồng thời không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P.
Ông K thống nhất với diện tích tranh chấp là 815m² theo Mảnh trích đo địa chính số 25-2023 ngày 15/6/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T (Nay là Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực T) và giá trị đất theo chứng thư thẩm định giá số 809.2023.VT-HS ngày 20/7/2023 của Công ty Cổ phần T.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Ủy ban nhân dân huyện T có văn bản trình bày ý kiến như sau: UBND xã T có nhận Văn bản số 14/CV-TA ngày 07/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh về việc cung cấp thông tin, ý kiến, theo đó đề nghị UBND xã T có ý kiến về việc bà Tạ Ngọc P yêu cầu ông Tạ Văn K trả lại phần đất có diện tích là 929,6m2 thuộc thửa đất số 45, tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện T, tinh L (nay là ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh). Qua kiểm tra hồ sơ có liên quan, UBND xã T có ý kiến như sau: Liên quan đến nội dung vụ án trên, ngày 04/11/2024, UBND huyện T trước đây đã có Văn bản số 6811/UBND-NC về việc cung cấp thông tin liên quan đến việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa các đương sự là bà Tạ Ngọc P và ông Tạ Văn K, theo đó có nội dung: "1. Hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Tạ Ngọc P Thực hiện Quyết định số 3709/QĐ-UBND ngày 10/10/2019 của UBND tỉnh L về việc phê duyệt chi phí đầu tư vào đất mà người dân phải hoàn trả cho Nhà nước trong khu đất 96ha. Ngày 29/6/2021, bà Tạ Thị Ngọc P có hợp đồng với Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai đo đạc phần đất đang sử dụng là thửa đất số 45 tờ bản đồ số 13 diện tích 21.429 m² loại đất RSX. Theo mảnh trích đo địa chính số 65-2021 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký duyệt ngày 05/10/2021, thửa đất số 45 đã có chủ giáp ranh ký xác nhận và có tứ cận như sau: + Đông có chiều dài 152,7m giáp thửa 51, 52, 54 của bà Tạ Thị N, ông Tạ Văn L và ông Tạ Văn P1 (có xác nhận ký tên chủ giáp ranh); + Tây có chiều dài 155m tiếp giáp thửa 43, 387 của bà Trần Kim Đ và ông Trần Văn Q1 (có xác nhận ký tên chủ giáp ranh); + Nam có chiều dài 142,9m tiếp giáp thửa 47 của ông Tạ Văn D (có xác nhận ký tên chủ giáp ranh) + Bắc có chiều dài 136,7m tiếp giáp thửa 44 của ông Tạ Văn K, (có xác nhận ký tên chủ giáp ranh).
Ngày 26/10/2021, UBND huyện ban hành Quyết định số 6294/QĐ-UBND về việc phê duyệt chi phí đầu tư vào đất mà người dân phải hoàn trả cho Nhà nước trong khu đất 96ha đối với bà Tạ Ngọc P, với số tiền 49.576.000 đồng tại thửa đất số 45 tờ bản đồ số 13 diện tích 21.429 m² loại đất RSX. Ngày 29/10/2021, bà Tạ Ngọc P hoàn thành chi phí đầu tư vào đất, UBND xã T lập hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ lần đầu và được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 45 tờ bản đồ số 13 diện tích 21.429 m2 loại đất RSX theo Quyết định số 8353/QĐ-UBND ngày 31/12/2021. Như vậy, đối với hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ lần đầu của Tạ Ngọc P thực hiện theo đúng theo quy định của pháp luật như có đơn đăng ký cấp giấy, có bản tường trình nguồn gốc đất, phiếu lấy ý kiến khu dân cư, niêm yết thông báo và kết thúc thông báo về tình trạng tranh chấp" UBND xã T vẫn giữ quan điểm như nội dung tại Văn bản số 6811/UBND-NC ngày 04/11/2024 của UBND huyện T trước đây. Trên đây, là ý kiến của UBND xã T. Kính gửi Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh nắm, giải quyết theo quy định. Ông C đại diện UBND xã T thống nhất với Công văn số 162/UBND-NC ngày 17/7/2025 và không trình bày thêm.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị S1 trình bày: Bà là vợ của ông Tạ Văn K và đồng ý với ý kiến trình bày của ông K và không bổ sung thêm gì khác.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 04 tháng 08 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Tây Ninh đã xử (tóm tắt):
Căn cứ các Điều 26, 35, 39 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 189, 190 Bộ luật Dân sự; Điều 95, 99, 166, 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tạ Ngọc P.
Buộc ông Tạ Văn K trả cho bà Tạ Ngọc P số tiền 71.720.000đ (Bảy mươi mốt triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng) giá trị của phần đất tranh chấp có diện tích 815m² theo chứng thư thẩm định giá số 809.2023.VT-HS ngày 20/7/2023 của Công ty Cổ phần T.
Ông Tạ Văn K được quyền liên hệ Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thu hồi, điều chỉnh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đối diện tích đất là 815m² theo Mảnh trích đo địa chính số 25-2023 ngày 15/6/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T (Nay là Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực T) theo quy định tại Điều 152 Luật đất đai năm 2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và nghĩa vụ chậm thi hành án; Quyền, thời hạn kháng cáo của đương sự, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo luật định.
Ngày 06 tháng 08 năm 2025, bị đơn là ông Tạ Văn K kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bà Đậu Thị Q và bà Nguyễn Thị H là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Tạ Văn K thống nhất trình bày: Ông K vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai quan hệ tranh chấp; không đưa ông H1 và ông K1 là người trực tiếp thực hiện đo đạc dẫn đến sai lệch diện tích đất vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; chưa giải thích rõ về các khoản chi phí tố tụng; chưa xác định đúng đối tượng tranh chấp cũng như làm rõ số liệu, vị trí, tính chất pháp lý của phần đất tranh chấp; không xem xét yếu tố nguồn gốc sử dụng đất ổn định, lâu dài của ông K; không đánh giá đầy đủ các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và lời khai của những người giáp ranh thửa đất của ông K; thủ tục thẩm định để lập mảnh trích đo địa chính không đúng quy định; bà P không có căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện khi cho rằng ông K đã lấn đất của mình; chính bà P là người tự kê khai và chấp nhận diện tích 21.429m² trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng sau đó lại cho rằng diện tích đất bị thiếu; bà P được cơ quan nhà nước thẩm định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 21.429m² nên không có cơ sở xác định diện tích 815m² đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà P; Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ sự biến động về diện tích đất ông K, bà P đã sử dụng trong từng giai đoạn; buộc ông K trả cho bà P số tiền 71.720.000 đồng giá trị đất tranh chấp là không có cơ sở bởi trên thực tế ông K không được tăng thêm diện tích đất; chưa áp dụng đầy đủ các quy định pháp luật để giải quyết và một số lỗi sai sót trong phần nhận định của bản án. Từ đó, đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật, nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án khách quan, toàn diện và đúng quy định pháp luật.
Nguyên đơn bà Tạ Ngọc P trình bày: Bà không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ông K. Riêng phần chi phí tố tụng theo như bị đơn cho rằng có sự chênh lệch so với chứng từ có trong hồ sơ liên quan đến việc thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản có sự chênh lệch là 6.495.200 đồng thì bà tự nguyện chịu phần này. Chi phí tố tụng còn lại có chứng từ cụ thể là 22.106.800 đồng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án giữ nguyên các phần còn lại của bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn ông Tạ Văn K đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo:
Về chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá là : 28.602.000 đồng. Đại diện bị đơn không đồng ý hoàn trả lại cho bà P nếu như yêu cầu của bà P được chấp nhận. Vì theo chứng từ trong hồ sơ thể hiện Chi phí đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T là 4.042.800 đồng, chi phí định giá là 18.000.000 đồng, chi phí cung cấp tài liệu thông tin có phiếu thu là 64.000 đồng. Tổng cộng chứng từ thể hiện là 22.106.800 đồng. So với quyết định trong bản án có sự chênh lệch là 6.495.200 đồng không có chứng từ thể hiện, cấp sơ thẩm giải trình đây là chi phí thẩm định tại chỗ phát sinh của hai lần thẩm định tại chỗ. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự cũng thống nhất là Tòa án cấp sơ thẩm thực tế có đi thẩm định tại chỗ 02 lần. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà P cũng thống nhất tự nguyện chịu toàn bộ chi phí chênh lệch là 6.495.200 đồng nên cần ghi nhận. Do yêu cầu khởi kiện của bà P được chấp nhận nên buộc ông K phải hoàn trả lại chi phí tố tụng là 22.106.800 đồng cho P là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm cải sửa một phần bản án sơ thẩm về chi phí tố tụng.
Theo Công văn số 2360/CS-KT ngày 15/6/2025 của cơ quan công an tỉnh cùng với Báo cáo về việc kết quả rà soát, kiểm tra số liệu khu I, tại Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An (cũ) kèm bảng tổng hợp hiện trạng sử dụng đất khu vực 40ha giao cho huyện quản lý ấp A, xã T huyện T, tỉnh Long An (cũ) năm 2017 thì bà P được sử dụng đất diện tích là 22.423,8m², ông K là 9.619.6m² nhưng thực tế cấp giấy cho bà P là 21.429m² và dự kiến cấp cho ông K là 10.342m² việc sai lệch này được xác định lỗi của ông Huỳnh K1 (cán bộ địa chính xã T (cũ)) và ông Nguyễn Minh H1 (viên chức đo đạc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T (cũ)) đã không kiểm tra đối chiếu số liệu, thực trạng đất và tiến hành đo đạc không có sự chứng kiến của bà P dẫn đến làm sai lệch về diện tích khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà P và ông K. Hiện tại, ông K là người trực tiếp quản lý và sử dụng phần đất đang tranh chấp và bà P chỉ yêu cầu ông K trả lại giá trị đất là 71.720.000đ theo chứng thư thẩm định giá số 809.2023.VT-HS ngày 20/7/2023 của Công ty cổ phần T. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cải sửa một phần bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Kháng cáo của bị đơn ông Tạ Văn K thực hiện đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Việc xét xử vắng mặt của đương sự: Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Tây Ninh có đơn xin xét xử vắng mặt và thuộc trường hợp quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án vẫn xét xử phúc thẩm vụ án.
[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Bị đơn là ông Tạ Văn K kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Căn cứ theo Điều 293 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung của bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.
[4] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án và áp dụng pháp luật nội dung: Bà P yêu cầu ông K trả lại phần diện tích đất lấn chiếm là 815m² tại vị trí khu B theo Mảnh trích đo địa chính số 25-2023 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T (Nay là Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực T) đo vẽ và duyệt ngày 15/6/2023. Chứ không yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất của bà P và ông K do các bên không thống nhất được ranh giới. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” và thụ lý giải quyết vụ án là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Do đây là tranh chấp quyền sử dụng đất để xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sở hữu là của ai và tranh chấp phát sinh năm 2023 nên áp dụng pháp luật có liên quan cụ thể là Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đất đai năm 2013, 2024 và các văn bản pháp luật hướng dẫn khác có liên quan. Đại diện bị đơn cho rằng Tòa án phải xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất và phải áp dụng các quy định pháp luật về ranh giới, mốc giới giữa các bất động sản liền kề để làm căn cứ giải quyết là không phù hợp với yêu cầu khởi kiện của bà P đối với ông K.
Về nội dung vụ án và yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Tạ Văn K:
[5] Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thống nhất nguồn gốc đất đang tranh chấp là của cha ruột nguyên đơn bà P, bị đơn ông K là ông Tạ Văn C1 nằm trong khu 96ha đang được UBND huyện T (cũ) cho cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng và diện tích đất các bên đang tranh chấp là 815m² tại vị trí khu B theo Mảnh trích đo địa chính số 25-2023 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T (Nay là Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực T) đo vẽ và duyệt ngày 15/6/2023 và thống nhất giá trị đất theo chứng thư thẩm định giá số 809.2023.VT-HS ngày 20/7/2023 của Công ty Cổ phần T để Tòa án làm cơ sở giải quyết vụ án. Việc Tòa án trưng cầu cơ quan chuyên môn để tiến hành đo đạc, định giá và tiến hành thu thập thêm tài liệu chứng cứ để làm rõ nguồn gốc, quá trình sử dụng và việc cấp giấy chứng nhận quyến sử dụng đất làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án, được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự nhận được kết quả đo vẽ, định giá đất tranh chấp mà không có bất kỳ ý kiến hay khiếu nại gì. Do đó, đại diện bị đơn cho rằng thủ tục thẩm định để lập Mảnh trích đo địa chính số 25-2023 là không đảm bảo đúng quy định của pháp luật và Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ đối tượng tranh chấp, chưa làm rõ vị trí, số liệu và tính chất pháp lý của phần đất đang tranh chấp là không có cơ sở.
[6] Bà P xác định phần đất tranh chấp tại vị trí khu B là mương nước thuộc quyền sử dụng đất nằm trong thửa 45 của bà P có từ trước khi cha của bà P còn sống. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông K cho rằng giữa đất của ông K và bà P có 02 mương nước.Theo đó, mương nước trên đất tranh chấp là thuộc quyền sử dụng đất của ông K, ranh đất thực tế giữa hai bên đã có cột mốc phân ranh, ranh đất bên bà P chỉ đến phần mương còn lại. Bà P không thừa nhận lời trình bày của ông K. Hai bên không thống nhất được ranh giới thực tế giữa hai thửa đất. Ông K không cung cấp được chứng cứ chứng minh lời trình bày của mình và cũng không yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm thẩm định lại hiện trạng thực tế mương nước đang tranh chấp giữa hai bên mà đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông K còn xác định mương nước là hai bên sử dụng chung nên ông K cho rằng phần đất tranh chấp này ông K sử dụng ổn định lâu dài trên vị trí khu B là không có cơ sở.
[7] Xét quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà P đối với thửa đất 45 diện tích được chấp theo giấy là 21.429m²: Theo Văn bản số 6811/UBND-NC về việc cung cấp thông tin liên quan đến việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa các đương sự là bà Tạ Ngọc P và ông Tạ Văn K, theo đó có nội dung: "1. Hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Tạ Ngọc P Thực hiện Quyết định số 3709/QĐ-UBND ngày 10/10/2019 của UBND tỉnh L về việc phê duyệt chi phí đầu tư vào đất mà người dân phải hoàn trả cho Nhà nước trong khu đất 96ha. Ngày 29/6/2021, bà Tạ Thị Ngọc P hợp đồng với Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai đo đạc phần đất đang sử dụng là thửa đất số 45 tờ bản đồ số 13 diện tích 21.429 m² loại đất RSX. Theo Mảnh trích đo địa chính số 65-2021 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký duyệt ngày 05/10/2021. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, ông K thừa nhận khi tiến hành đo đạc thửa đất 44 của ông K và thửa đất 45 của bà P vào năm 2021 thì chỉ có ông Huỳnh K1 (cán bộ địa chính xã T (cũ)) và ông Nguyễn Minh H1 (viên chức đo đạc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T (cũ)) đại diện cho chính quyền địa phương tiến hành xem xét đo đạc và bà P không có mặt tại đất để chỉ ranh đất mà do ông K xác định và cắm cột để xác định ranh đất. Do đó, bà P không thừa nhận ranh giới giữa 02 thửa đất theo Mảnh trích đo địa chính số 65-2021 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký duyệt ngày 05/10/2021 tương ứng phần đất đang tranh chấp có ranh giới tại vị trí B giáp với khu C là ranh giới của thửa đất 44 của ông K và thửa đất 45 của bà P là có cơ sở. Đều này phù hợp với Công văn số 2360/CS-KT ngày 15/6/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công An tỉnh L (Nay là Công an tỉnh T) đã xác định: Quá trình đo vẽ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông K xác định không có sự chứng kiến của bà P do năm 2021 là tình trạng dịch bệnh Covid đang chuyển biến phức tạp. Bà P trình bày bà P có nhận được biên bản ký giáp ranh do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T (cũ) gửi để bà P ký giáp ranh vì ông K là anh ruột của bà P nên bà P không nghi ngờ đã ký biên bản giáp ranh cho ông K và bà P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích cấp giấy là 21.429m². Nên có cơ sở xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích cấp giấy là 21.429m² là không phù hợp với quy định pháp luật.
[8] Về biến động diện tích và thực tế diện tích thửa đất số 44 của ông K quản lý sử dụng: Đại diện của ông K cho rằng căn cứ vào quyết định số 902/1998.UB.QĐ ngày 10/12/1998 và quyết định số 3680/QĐ-UB ngày 02/12/1999 của Ủy ban nhân dân tỉnh L (cũ) về việc giải quyết khiếu nại buộc ông K đều xác định hành vi lấn chiếm đất trái phép của ông K quản lý sử dụng là 10.079m² chỉ dựa vào biên bản kiểm kê, không có thể hiện số liệu đo đạc thực tế nên không có cơ sở xác định thực tế ông K sử dụng đúng diện tích 10.097m2. Đồng thời, đại diện ông K cho rằng Quyết định số 7040/QĐ-UBND ngày 26/11/2021 của Ủy ban nhân dân huyện T đã phê duyệt chi phí đầu tư vào đất mà ông K hoàn trả cho nhà nước trong khu đất 96ha trên địa bàn xã T, huyện T đã xác định diện tích ông K phải thực hiện nghĩa vụ tài chính để được chấp giấy là trên diện tích 10.342m² và ông K đã thực hiện xong nghĩa vụ tài chính vào ngày 22/3/2022. Và thể hiện rõ trong Mảnh trích đo địa chính số 57-2021 vào ngày 05/10/2021 (Bút lụt 70) với diện tích 10.342m² nên khẳng định ông K là người sử dụng ổn định, hợp pháp đối với diện tích đất 10.324m² này là không có đủ cơ sở pháp lý như đã phân tích tại các đoạn [6], [7].
[9] Tuy nhiên, theo Công văn số 2360/CS-KT ngày 15/6/2025 của cơ quan công an tỉnh cùng với Báo cáo về việc kết quả rà soát, kiểm tra số liệu khu I, tại Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An (cũ) kèm bảng tổng hợp hiện trạng sử dụng đất khu vực 40ha giao cho huyện quản lý ấp A, xã T huyện T, tỉnh Long An (cũ) năm 2017 thì bà P được sử dụng đất diện tích là 22.423,8m², ông K là 9.619.6m² nhưng thực tế cấp giấy cho bà P là 21.429m² và dự kiến cấp cho ông K là 10.342m² việc sai lệch này được xác định lỗi của ông Huỳnh K1 (cán bộ địa chính xã T (cũ)) và ông Nguyễn Minh H1 (viên chức đo đạc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T (cũ)) đã không kiểm tra đối chiếu số liệu, thực trạng đất và tiến hành đo đạc không có sự chứng kiến của bà P dẫn đến làm sai lệch về diện tích khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà P và ông K. Hiện tại, ông K là người trực tiếp quản lý và sử dụng phần đất đang tranh chấp và bà P chỉ yêu cầu ông K trả lại giá trị đất là 71.720.000 đồng theo chứng thư thẩm định giá số 809.2023.VT-HS ngày 20/7/2023 của Công ty cổ phần T. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Vì vậy, cũng không cần thiết phải đưa ông Huỳnh K1 và ông Nguyễn Minh H1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như yêu cầu của đại diện bị đơn. Do đó, lời trình bày luận cứ lập luận của đại diện bị đơn như đã phân tích tại đoạn [8] là không có căn cứ pháp lý.
[10] Đồng thời, như đã phân tích tại [5], [7], [9], đại diện bị đơn cho rằng bà P tự kê khai và chấp nhận diện tích của thửa 45 là 21.429m² trong hồ sơ xin cấp giấy, nhưng sau đó bà P lại cho rằng diện tích bị thiếu 815m², trong khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà P chỉ xác định bà P được cấp 21.429m² để xác định thực tế bà P chỉ quản lý sử dụng 21.429m² là không có cơ sở theo lí lẽ của đại diện bị đơn. Đồng thời, đại diện bị đơn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Công văn số 133/CV-TA ngày 06/9/2024 đã có gửi UBND xã T, huyện T, tỉnh Long An, yêu cầu cung cấp hồ sơ liên quan đến Bảng tổng hợp hiện trạng sử dụng khu đất 96 ha được giao cho UBND huyện quản lý từ năm 2012 tại ấp A, xã T. Nhưng cho đến thời điểm hiện tại, UBND xã T vẫn chưa có phản hồi chính thức đối với nội dung yêu cầu nêu trên và cho rằng việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất của bà P trên bảng tổng hợp năm 2017 là chưa có cơ sở vững chắc, bởi chưa có tài liệu chứng cứ từ cơ quan quản lý đất đai xác nhận. Vấn đề này, Hội đồng xét xử xét thấy, Công văn số 133/CV-TA ngày 06/9/2024 đã có gửi UBND xã T, huyện T, tỉnh Long An đã có ấn định thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận văn bản thì UBND xã T phải cung cấp chứng cứ cho Tòa án nhưng quá hạn UBND xã T vẫn không cung cấp cho Tòa án nên việc bà P nộp B tổng hợp hiện trạng sử dụng khu đất 96 ha được giao cho UBND huyện quản lý từ năm 2012 (bản photo) không phải là chứng cứ trong vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án cấp sơ thẩm sử dụng chứng cứ là Báo cáo về việc kết quả rà soát, kiểm tra số liệu khu I, tại Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An (cũ) kèm bảng tổng hợp hiện trạng sử dụng đất khu vực 40ha giao cho huyện quản lý ấp A, xã T huyện T, tỉnh Long An (cũ) năm 2017 có mộc đỏ treo và giáp lai của Ủy ban nhân dân xã T cung cấp được xem được xem là chứng cứ hợp pháp theo quy định của pháp luật dùng để đánh giá trong việc giải quyết vụ án là phù hợp. Đối với sai sót, nhầm lẫn về số liệu diện tích các thửa đất của bản án sơ thẩm như đại diện bị đơn sẽ được xem xét chỉnh sửa lại theo đúng quy định.
[11] Từ những nhận định và phân tích nêu trên, ông K kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh ông K không lấn chiếm đất của bà P nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của ông K.
[12] Về chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc và định giá: 28.602.000 đồng. Đại diện bị đơn không đồng ý hoàn trả lại cho bà P nếu như yêu cầu của bà P được chấp nhận. Vì theo chứng từ trong hồ sơ thể hiện Chi phí đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T là 4.042.800 đồng, chi phí định giá là 18.000.000 đồng, chi phí cung cấp tài liệu thông tin có phiếu thu là 64.000 đồng. Tổng cộng chứng từ thể hiện là 22.106.800 đồng. So với quyết định trong bản án có sự chênh lệch là 6.495.200 đồng không có chứng từ thể hiện, cấp sơ thẩm giải trình đây là chi phí thẩm định tại chỗ phát sinh của hai lần thẩm định tại chỗ. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự cũng thống nhất là Tòa án cấp sơ thẩm thực tế có đi thẩm định tại chỗ 02 lần. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà P cũng thống nhất tự nguyện chịu toàn bộ chi phí chênh lệch là 6.495.200 đồng nên cần ghi nhận. Do yêu cầu khởi kiện của bà P được chấp nhận nên buộc ông K phải hoàn trả lại chi phí tố tụng là 22.106.800 đồng cho P là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn, cần phải cải sửa một phần bản án sơ thẩm về chi phí tố tụng.
[13] Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận
[14] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho bị đơn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Tạ Văn K.
Cải sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 04 tháng 08 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Tây Ninh về chi phí tố tụng.
Căn cứ các Điều 26, 35, 39 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 189, 190 Bộ luật Dân sự, Điều 95, 99, 166, 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tạ Ngọc P.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ, định giá và đo đạc là 28.602.000 đồng (Hai mươi tám triệu sáu trăm lẻ hai nghìn đồng):
- Về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Tạ Văn K phải chịu 3.586.000 đồng (Ba triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Bà Tạ Ngọc P không phải chịu án phí, hoàn trả bà P số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà bà P đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 008939 ngày 09/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Hóa. (Nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 2 – Tây Ninh).
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Tạ Văn K không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho ông Tạ Văn K số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002482 ngày 06/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh
- Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Buộc ông Tạ Văn K trả cho bà Tạ Ngọc P số tiền 71.720.000 đồng (Bảy mươi mốt triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng) giá trị của phần đất tranh chấp có diện tích 815m² theo chứng thư thẩm định giá số 809.2023.VT-HS ngày 20/7/2023 của Công ty Cổ phần T.
Ông Tạ Văn K được quyền liên hệ Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thu hồi, điều chỉnh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đối diện tích đất là 815m² theo Mảnh trích đo địa chính số 25-2023 ngày 15/6/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T (Nay là Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực T) theo quy định tại Điều 152 Luật Đất đai năm 2024.
2.1 Ghi nhận sự tự nguyện của bà Tạ Ngọc P chịu 6.495.200 đồng (Sáu triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn hai trăm đồng), đã nộp và chi xong.
2.2 Ông Tạ Văn K có nghĩa vụ phải hoàn trả cho bà Tạ Ngọc P chi phí tố tụng là 22.106.800 đồng (Hai mươi hai triệu một trăm lẻ sáu nghìn tám trăm đồng).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Tiền Phương |
Bản án số 755/2025/DS-PT ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 755/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tạ Ngọc Ph - Tạ Văn Kh
