TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 755/2024/HS-PT Ngày: 28 - 8 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Thanh Dũng
Ông Ngô Mạnh Cường
Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 197/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Trần Trung H. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2024/HS-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Bị cáo kháng cáo:
Trần Trung H, sinh năm 1997, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: 131 C, Khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Tuấn C và bà Nguyễn Thị Diệu T; có vợ: Huỳnh Nguyễn Thanh V và 01 con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 01/9/2015, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt Trần Trung H 04 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 01/3/2018, đã được xóa án tích.
Ngày 21/8/2020, Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 393/QĐ-UBND đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đến ngày 27/10/2020, đã ra khỏi cơ sở cai nghiện theo Quyết định số 468/QĐ-UBND ngày 26/10/2020.
Trần Trung H bỏ trốn khỏi nơi cư trú, bị Cơ quan điều tra ra lệnh truy nã, sau đó ra đầu thú vào ngày 30/8/2021, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B_nghiệp (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đỗ Hải B thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01 tháng 8 năm 2020, Trần Trung H có mượn của Nguyễn Quang S số tiền 32.000.000 đồng. S chuyển tiền cho H từ tài khoản của S số [...] mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần S4 (viết tắt là S5), Phòng G1 qua tài khoản số [...] mở tại S5 - Phòng G2 - Chi nhánh H2 của Nguyễn Hoàng Minh T1 (là bạn gái của H. Do H không trả tiền, nên S nhiều lần đòi tiền H, H có hứa hẹn với S sẽ giới thiệu mối mua ma túy cho S, nhưng sau đó H lẩn tránh S nên S liên lạc đòi tiền T1.
Ngày 12/8/2020, Nguyễn Quang S dùng điện thoại iPhone 11 Pro Max có sim số 0987812715 liên lạc với Nguyễn Hoàng Minh T1 qua số điện thoại 0903.012.xxx để nhờ T1 giới thiệu cho S mua ma túy. Thư hẹn S vào thành phố Hồ Chí Minh sẽ giới thiệu cho S mua ma túy với số lượng 01 lạng hàng khay giá 68.000.000 đồng và 200 viên thuốc lắc với giá 170.000 đồng/1 viên, đồng thời T1 có gửi hình 02 viên thuốc lắc qua điện thoại cho S xem trước.
Ngày 13/8/2020, S thuê xe ôtô biển số 86A-130.37 của ông Lê Minh Đ, chiếc xe này ông Đ thuê của bà Lê Thị Hồng S1 với mục đích để đi vào thành phố Hồ Chí Minh gặp T1 mua ma túy. Chiều ngày 13/8/2020, sau khi thuê được xe, S đến phòng 409 chung cư P, thành phố P, là nơi ở của Trần Linh S2 để chơi. Tại đây, S2 có nói chuyện với S về việc S2 đang nợ tiền người khác thì S nói sẽ giúp S2 trả nợ bằng cách đi với S vào thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy về bán kiếm lời (S chỉ thừa nhận S rủ S2 đi thành phồ Hồ Chí M lấy tiền nợ, không thừa nhận rủ S2 đi mua ma túy về bán), sau đó S ra về.
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 13/8/2020, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Thu C1 (sinh năm 1988; địa chỉ thường trú: ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; khi làm việc với Cơ quan điều tra thì C1 khai mình tên là Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1987, có địa chỉ như trên) sử dụng điện thoại có sim số 0937.726.xxx gọi đến số điện thoại 0972.126.xxx của Nguyễn Thái S3 (tên gọi khác Nành, Đậu N) nhờ S3 giới thiệu cho C1 mua 06 con kẹo và nửa hộp năm (tức là 06 viên thuốc lắc và ma túy khay), đồng thời, nói C1 đang ở khu phố P, thị trấn P, huyện H. Khoảng 21 giờ 02 phút 13/8/2020, S3 nhắn tin đến số 0865300019 của Trần Linh S2 với nội dung: “0937726636 đó e”, “E goi lại sđt nay”, “Bà chị của c lấy đồ á”. Đến 21 giờ 05 phút cùng ngày, S3 tiếp tục nhắn tin có nội dung: “E đem ra P 06 c nửa hộp” (có nghĩa là đem ra P 6 viên ma túy
2
thuốc lắc MDMA và nửa hộp ma túy Ketamine). Do trước đó vào tháng 4/2020, S2 có mua 50 viên thuốc lắc và nửa lạng hàng khay với giá 50 triệu đồng của một người đàn ông (không rõ nhân thân, địa chỉ, số điện thoại) tại P. Sau khi mua về, S2 đã bán 44 viên thuốc lắc và hàng khay cho một số người không rõ nhân thân nên còn lại 06 viên thuốc lắc và hơn nửa hộp năm hàng khay. Từ khi nhận được tin nhắn của Sinh thì giữa S2 và S3 đã liên lạc với nhau nhiều lần, nhưng S2 và S3 không nhớ nội dung trao đổi là gì. Buổi tối ngày 13/8/2020, khi S đi ô tô biển số 86A-130.37 đến phòng số 409 chung cư P của S2 thì S2 nhờ S chở đến khu phố P, thị trấn P, huyện H để bán ma túy, S2 không nói cho S biết là S2 mang ma túy đi bán. Khi đến chỗ hẹn, S2 xuống xe đi bộ đến chỗ C1 đang đứng và giao cho C1 06 viên thuốc lắc và nửa hộp năm hàng khay; C1 đưa cho S2 4.800.000 đồng. Số ma túy mua được C1 đã sử dụng hết.
Quá trình điều tra còn xác định: Khoảng 20 giờ 47 phút ngày 13/8/2020, có số điện thoại 0989.414.xxx gọi đến số điện thoại 0987.812.xxx của S hỏi về việc mua ma túy, S không biết số điện thoại này là của ai, cũng không nhớ nhân thân lai lịch của người gọi điện thoại. Sau đó, đến khoảng 20 giờ 48 phút cùng ngày, S đã nhắn tin đến số điện thoại 0839.894.xxx của S2 nội dung: “0989.414.074 ba con một chấm 1 tr 9” có nghĩa 03 viên thuốc lắc và một chấm khay giá là 1.900.000 đồng để S2 liên lạc bán ma túy cho người có số điện thoại này. Sau đó, S2 đã gọi điện thoại cho số điện thoại này nhưng không được, nên S2 cũng không bán ma túy cho người có số điện thoại này.
Sau khi bán ma túy cho C1, S2 được S chở về lại chỗ ở trọ của S2 ở chung cư P. Tại đây, S2 đưa cho S 9.000.000 đồng để trả tiền S2 nợ S trước đó (trong đó có 4.800.000 đồng S2 vừa bán ma túy cho C1). Sau đó, S2 lấy số ma túy còn lại ra cùng S sử dụng. Trong lúc sử dụng ma túy, S rủ S2 đi vào thành phố Hồ Chí Minh để lấy tiền và mua đồ (Sang hiểu đồ ở đây có nghĩa là ma túy) thì S2 đồng ý. Khoảng 01 giờ sáng ngày 14/8/2020, S dùng điện thoại có sim số 0987.812.xxx điện đến số điện thoại 0948.564.xxx của Nguyễn Tam D rủ D đi vào thành phố Hồ Chí Minh chơi thì D đồng ý. Sau đó, S2 lái xe ôtô biển số 86A-130.37 chở S đến nhà D ở phường P đón D cùng đi. Khi đi đến thành phố L, tỉnh Đồng Nai thì S2 giao cho D lái đến đầu đường S thuộc huyện H, thành phố Hồ Chí Minh thì S là người lái xe. Trên đường đi, S điện thoại cho T1 và được T1 chỉ dẫn đường đến căn nhà do T1 thuê ở địa chỉ: số G, đường Cấp T, xã T, huyện H. Khi đến nơi là khoảng hơn 05 giờ sáng ngày 14/8/2020, T1 ra mở cửa dẫn S, S2 và D lên lầu đi vào phòng của T1 thì gặp Trần Trung H ở đó. Tại phòng của T1, S nói: “Có cơm chưa?” (tức là có ma túy chưa), thì H nói: “Đang mang qua”. S nói: “Lấy đồ chơi” (tức là lấy ma túy để sử dụng, S không nói cụ thể với ai). Một lúc sau, T1 lấy ra một cái dĩa, trong dĩa có một ít ma túy hàng khay. Thấy ma túy cũ nên S nói: “Lấy đồ thêm chơi”. Một lúc sau có một người nữ tên N1 (không rõ nhân thân, lai lịch) mang đến 02 viên thuốc lắc và một gói ma túy hàng khay đổ thêm vào dĩa để sử dụng. D nấu ma túy hàng khay để tất cả cùng sử dụng. Riêng H không sử dụng vì H sử dụng ma túy đá. Trong lúc sử
3
dụng ma túy, S có trao đổi với H về việc H nợ S 32 triệu đồng. H nói với S lấy ma túy để trừ nợ (qua đối chất H không thừa nhận có nói với S như vậy). S nói với S2 có lấy ma túy về bán không để S lấy rồi cấn trừ số tiền nợ của H qua cho S2 thì S2 đồng ý (S không thừa nhận có nói với S2 như vậy). Sau khi sử dụng ma túy hàng khay xong (còn lại một gói ma túy hàng khay và 02 viên thuốc lắc) thì S, D, T1 nằm nghỉ; người phụ nữ tên N1 đi đâu không rõ; còn S2 thì đi loanh quanh trong nhà của T1. Sau đó, S2 thấy H cùng một người đàn ông tên H1 (không rõ nhân thân lai lịch) đi vào căn phòng đối diện với phòng của T1; tiếp đó có hai người thanh niên đi xe máy không rõ biển số đến rồi cũng đi vào căn phòng này. S2 cũng đi vào căn phòng đó thì thấy H đang ngồi, hai người thanh niên đang đứng, còn người đàn ông tên H1 đang sử dụng ma túy đá. S2 thấy trước mặt H có 06 bịch nilon bên trong có chứa nhiều viên nén màu hồng hình quả dâu và một số viên lẻ ở bên ngoài. H chỉ vào các bịch nilon và nói với S2: “Cầm về đi” (tức là cầm ma túy thuốc lắc về đi). S2 cầm 06 bịch nylon này mang về để trong phòng của T1. Một lúc sau S2 thấy người phụ nữ tên N1 cầm một giỏ xách loại đựng điện thoại từ dưới lầu đi lên, rồi vào phòng đối diện với phòng của T1. H gọi S2 vào căn phòng này và đưa cho S2 một hộp giấy (loại đựng điện thoại) không có nắp, bên trong có 02 bịch ma túy hàng khay, trên mỗi bịch có ghi chữ “1000 cơm” và nói S2 mang về phòng cân lại (H khai hộp giấy này là N1 đưa cho S2). S2 mang hộp giấy này về phòng của T1; do S đang ngủ nên S2 gọi S và nói: “Có đồ rồi” (tức là có ma túy rồi). S dậy thì thấy S2 đang cầm một hộp giấy bên trong có 02 bịch ma túy hàng khay và nhiều bịch ma túy thuốc lắc được để trên nền trong phòng. Lúc này, H đi qua phòng của T1 và nói S chuyển 50.000.000 đồng vào tài khoản T1. Do T1 đang nằm ngủ nên S gọi dậy để đọc số tài khoản cho S chuyển tiền. Thư dậy và đưa điện thoại cho S, trên màn hình điện thoại có số tài khoản của T1. S đã dùng điện thoại của mình chuyển số tiền 50.000.000 đồng từ tài khoản số [...] của S đến tài khoản số [...] của T1. Sau khi chuyển tiền thì S nói với T1 là đã chuyển 50.000.000 đồng. Vài phút sau, S tiếp tục tự chuyển vào tài khoản của T1 số tiền 98.500.000 đồng để trả tiền mua ma túy đồng thời cấn trừ số tiền 32.000.000 đồng mà H nợ S từ trước vào số tiền mua ma túy. Sau khi chuyển tiền xong, S lấy cân tiểu ly có sẵn trong phòng của T1 cân lại 02 bịch ma túy hàng khay (lúc này S2 ngồi cạnh S). S cân thấy thiếu nên nói với H đang đứng gần đó là: “Đồ thiếu” thì H nói: “Cân lại đi, thiếu thì báo người ta”. Do ma túy hàng khay thiếu ít nên S không nói gì thêm. Tiếp đó N1 lấy hộp giấy, trong có thuốc lắc để vào túi xách bằng giấy màu đen - trắng có chữ “TOP WHITE - TOP SKIN CARE”. Sau đó S2, S, D về lại Phan T3 còn H ở lại nhà của T1 ngủ.
Trước khi đi về lại P, S2 lấy 01 gói ma túy hàng khay và 01 gói chứa 02 viên thuốc lắc là số ma túy còn lại sau khi sử dụng ở trên dĩa bỏ vào trong túi quần trước bên phải. Khi ra xe, S2 xách theo túi xách bằng giấy có chứa ma túy (hàng khay và thuốc lắc) đi ra xe để trên ghế tài xế, còn số ma túy cất trong túi quần thì S2 bỏ vào hộc cần gạt số xe ôtô rồi S2 lái xe chở S và D đi về P; S ngồi ở ghế phụ, còn D ngồi ở ghế sau. Trong quá trình ngồi trên xe, S lấy 01 gói ma
4
túy hàng khay và 01 gói chứa 02 viên thuốc lắc ở hộc cần gạt số kẹp vào trong cuốn sổ rồi để vào bên hông cánh cửa xe bên phụ. S2 lái xe được một đoạn thì D thay S2 lái xe, S2 cầm túi xách bằng giấy đựng ma túy xuống băng ghế sau nằm nghỉ, còn S vẫn ngồi vị trí ghế phụ. Khi xe đi đến đường C - D thì S lái xe thay cho D, còn D sang ghế phụ ngồi. Khi đến địa phận huyện H thì S2 lái xe thay cho S, còn S xuống ngồi ghế phía sau. Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 14/8/2021, xe đi đến K, Quốc lộ A, thuộc địa phận Khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận thì bị Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Tổ tuần tra kiểm soát Trạm Cảnh sát giao thông H3 và Công an thị trấn T, huyện H tiến hành dừng xe ôtô kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Quang S và Trần Linh S2 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ vật chứng và các tài sản sau:
(1). Dưới sàn xe ôtô ở băng ghế sau, tại vị trí S đang ngồi 01 túi xách bằng giấy màu đen - trắng có chữ “TOP WHITE - TOP SKIN CARE”, bên trong có:
- - 06 gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước mỗi gói khoảng (07 x 11) cm, bên trong mỗi gói đều chứa 50 viên nén màu hồng, hình quả dâu (ký hiệu M1).
- - 01 hộp giấy màu tím có chữ “VSMART”, kích thước khoảng (17 x 08 x 05) cm, bên trong có 02 gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước mỗi gói khoảng (13 x 08) cm, trên mỗi gói nylon này đều ghi chữ “1000 cơm”, bên trong mỗi gói nylon này đều chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M2 và M3).
(2). Thu giữ trong cánh cửa phụ nơi D ngồi:
- - 01 gói nylon không màu, có nhíp kéo màu xanh một đầu, kích thước khoảng (2,5 x 2,5) cm, bên trong có 02 viên nén màu hồng, hình quả dâu (ký hiệu M4).
- - 01 gói nylon không màu, có nhíp kéo một đầu, kích thước khoảng (03 x 04) cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M5).
(3). Thu giữ của Nguyễn Quang S:
- - 01 điện thoại di động loại cảm ứng màu trắng, tên kiểu máy iPhone 11 Pro Max, bên trong điện thoại có chứa sim số 0987812715.
- - 01 điện thoại di động loại cảm ứng màu trắng, tên kiểu máy iPhone Xs M1, bên trong điện thoại có chứa sim số 0911119262.
- - Tiền Ngân hàng N2: 10.000.000 đồng.
(4). Thu giữ của Trần Linh S2:
- - 01 điện thoại di động loại cảm ứng màu đen, tên kiểu máy iPhone X, bên trong điện thoại có chứa sim số 0963657700.
- - 01 điện thoại di động màu đen, mặt trước và mặt sau đều có ghi chữ NOKIA, bên trong điện thoại có chứa sim số 0865300019 và 0839894619.
5
(5). Thu giữ của Nguyễn Tam D:
- - 01 điện thoại di động loại cảm ứng, màu đen - xám, mặt sau có chữ iPhone, bên trong có chứa sim số 0948564264, số IMEI: 013631002218979.
- - 01 điện thoại di động loại cảm ứng, màu đen, mặt sau có chữ VIVO, bên trong có sim số 0827777030 và 0866543542, số IMEI1: 868490036909954; IMEI2: 868490036909947, mật khẩu mở máy là 9999.
- - Tiền Ngân hàng N2 3.700.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra lập biên bản tạm giữ 01 xe ô tô màu trắng, nhãn hiệu KIA, loại CERATO, biển số 86A - 130.37.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Linh S2 tại phòng 409, chung cư P, thu giữ trong phòng ngủ của Trần Linh S2 01 cân điện tử màu xanh da trời; S2 khai dùng để cân ma túy.
Vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 15/8/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Trung H tại địa chỉ số nhà G đường C, ấp T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh, thu giữ các đồ vật, tài liệu sau:
- Trong phòng ngủ trên lầu phía bên phải cầu thang đi lên:
- + 01 khẩu súng bằng kim loại, màu bạc có số 19TH5251, trên thân súng có chữ “MADE IN TAIWAN” bên trong có 06 viên đạn màu đồng. Súng này của Trần Văn Đ1 (sinh năm 1975, địa chỉ thường trú: xóm F, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; ở trọ tại: thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước).
- + 01 cân tiểu ly có chữ “Marllono” được thu giữ trên kệ trong phòng ngủ.
- Trong phòng ngủ của Nguyễn Hoàng Minh T1:
- + 01 Giấy chứng minh thư nhân dân số [...] ghi tên Trần Trung H.
- + 01 hợp đồng thuê nhà ngày 05/8/2020 giữa bên cho thuê là Võ Trường G, bên thuê là Nguyễn Hoàng Minh T1, được thu giữ trong ngăn kéo tủ đặt cạnh giường ngủ.
- + 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ “VSMART”, số IMEI 1: 351726113172121, IMEI 2: 351726113172139, bên trong điện thoại không có sim số (H khai nhận đó là điện thoại của H).
- + 01 điện thoại di động màu xanh - xám, mặt trước và sau có chữ NOKIA, bên trong điện thoại chứa sim số 0388.969.xxx, số IMEI: 357.984/03/336761/0. H khai nhận đó là điện thoại của H.
Tại bản Kết luận giám định số 911/KLGĐ-PC09 ngày 20/8/2020 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- - Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 104,3921 gam, là MDMA.
- - Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 99,6171 gam, là Ketamine.
6
- - Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 99,7915 gam, là Ketamine.
- - Mẫu M4 gửi giám định có khối lượng 0,7012 gam; là MDMA
- - Mẫu M5 gửi giám định có khối lượng 1,1603 gam, là Ketamine
Tổng khối lượng các chất ma túy là 105,0933 gam MDMA và 200,5689 gam Ketamine
Tại bản Kết luận giám định số 4272/C09B ngày 31/8/2020 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- - Khẩu súng gửi giám định nguyên là súng đồ chơi nguy hiểm đã bị thay đổi kết cấu. Hiện tại súng rất khó để bắn được đạn nổ. Sử dụng dầu bôi trơn để giảm ma sát của các bộ phận súng (như kim hỏa, búa đập, cò súng), bắn thực nghiệm với đạn thể thao cỡ (5,6 x 15)mm, kết quả đạn nổ. Khẩu súng gửi giám định nêu trên có tính năng tương tự như vũ khí quân dụng.
- - 06 viên đạn gửi giám định nêu trên là đạn thể thao cỡ (5,6 x 15)mm. Đạn được sử dụng để bắn với khẩu súng nêu trên.
- - Sử dụng khẩu súng nêu trên bắn đạn thật phù hợp vào cơ thể của người hoặc động vật có thể gây sát thương.
Quá trình điều tra, H khai không biết ai là người bán ma túy cho S, thấy S nói hàng thiếu (ma túy hàng khay thiếu) nên H mới nói thiếu thì báo người ta; H nói S2 cầm ma túy thuốc lắc về là do H thấy không phải là ma túy của H; việc H nói S chuyển tiền vào tài khoản của T1 50 triệu đồng chỉ là H mượn tiền của S. Tuy nhiên, trên thực tế trước đó S đã cho H mượn 32 triệu đồng dưới hình thức chuyển khoản vào tài khoản của T1. H có hứa với S sẽ giới thiệu cho S mối mua ma túy; H biết việc S vào thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy trước khi S, S2 nhận ma túy; tại phòng đối diện với phòng Thư, có Hiếu, ông H1, hai người thanh niên mang ma túy thuốc lắc và S2, khi hai người thanh niên bỏ ra 06 gói thuốc lắc, H đã chủ động nói S2 mang các gói thuốc lắc về; sau khi thấy ma túy đã được giao cho S, S2; H đã chủ động nói S chuyển 50 triệu đồng vào tài khoản của T1, phù hợp lời khai của S: “Trước đó khi đang sử dụng ma túy tại phòng của T1 (thử ma túy) H đã đồng ý với S là S lấy ma túy để trừ số tiền H nợ S”, phù hợp với việc S2 khai chính H là người đưa cho S2 một hộp giấy (loại đựng điện thoại) không có nắp, bên trong có 02 bịch ma túy hàng khay; phù hợp với số tiền S chuyển vào tài khoản của T1 để mua ma túy. Do vậy, đủ căn cứ khẳng định Trần Trung H đã có hành vi bán trái phép 105,0933 gam MDMA và 200,5689 gam Ketamine cho Nguyễn Quang S, Trần Linh S2.
Xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển tin báo “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo Phiếu chuyển tin báo số 36/CSMT ngày 22/9/2020 đối với vụ việc Trần Văn Đ1 tàng trữ khẩu súng nêu trên kèm theo khẩu súng bằng kim loại, màu bạc có số 19TH5251, trên thân súng có chữ “MADE IN TAIWAN”,
7
bên trong có 06 viên đạn màu đồng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H để chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H xử lý theo thẩm quyền.
Đối với chiếc xe ôtô màu trắng nhãn hiệu KIA, loại CERATO, biển số 86A-130.37, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra quyết định xử lý trả lại cho bà Lê Thị Hồng S1.
Đối với 01 điện thoại loại cảm ứng, màu đen - xám, mặt sau có chữ “iPhone”, bên trong có chứa sim số 0948564264 và 01 điện thoại di động loại cảm ứng, màu đen, mặt sau có chữ “VIVO”, bên trong có chứa sim số: 0827777030 và 0866543542 cùng 3.700.000 đồng đã trả lại cho Nguyễn Tam D.
Đối với 01 hợp đồng thuê nhà ngày 05/8/2020, giữa bên cho thuê là Võ Trường G, bên thuê là Nguyễn Hoàng Minh T1, hiện lưu trong hồ sơ vụ án.
Các vật chứng được lưu giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận, gồm:
- Mẫu vật còn lại sau giám định:
- + 06 gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước mỗi gói khoảng (7 x 11)cm và 100,1866 gam mẫu M1 còn lại sau giám định, được niêm phong trong hộp số 911/1, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.
- + 02 gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước mỗi gói khoảng (8 x13) cm, bên ngoài mỗi gói nylon này đều ghi chữ “1000 cơm”; 98,3437 gam mẫu M2 và 98,3087 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong hộp số 911/2, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.
- + 01 gói nylon không màu, có nhíp kéo màu xanh một đầu, kích thước khoảng (2,5 x 2,5)cm và 01 gói nylon không màu, có nhíp kéo một đầu, kích thước khoảng (3 x 4)cm và 0,5058 mẫu M5 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 911/3, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T4 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B (trong quá trình giám định mẫu M4 đã được phân tích hết).
- 01 điện thoại di động loại cảm ứng màu trắng, kiểu máy iPhone 11 Pro Max, bên trong điện thoại có chứa sim số 0987812715; 01 điện thoại di động loại cảm ứng màu trắng, tên kiểu máy iPhone Xs M1, bên trong điện thoại có chứa sim số 0911119262; tiền Ngân hàng N2 10.000.000 đồng (thu giữ của Nguyễn Quang S).
- 01 điện thoại di động loại cảm ứng màu đen, kiểu máy iPhone X, bên trong điện thoại có chứa sim số 0963657700; 01 điện thoại di động màu đen, mặt trước và mặt sau có chữ NOKIA, bên trong điện thoại có chứa sim số: 0865300019 và 0839894619 (thu giữ của Trần Linh S2).
8
- - 01 túi xách bằng giấy màu đen - trắng có chữ “TOP WHITE - TOP SKIN CARE”; 01 cân tiểu ly có chữ Marllono, được thu giữ trong nhà thuê của T1; 01 cân điện tử màu xanh da trời, thu giữ trong phòng ngủ của S2.
- - 01 Giấy chứng minh thư nhân dân số [...] ghi tên Trần Trung H; 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau điện thoại có chữ “VSMART”, không chứa sim, số IMEI 1: 351.726.113.172.121, IMEI 2: 351.726.113.172.139 và 01 điện thoại di động màu xanh - xám, mặt trước và sau có chữ NOKIA, bên trong điện thoại chứa sim số 0388.969.xxx, số IMEI: 357.984/03/336761/0 thu giữ của Trần Trung H.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2022/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2022, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã quyết định:
Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Quang S và bị cáo Trần Linh S2 mỗi bị cáo 20 năm tù, về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Áp dụng khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Trung H 02 năm tù, về tội: Không tố giác tội phạm.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 657/2022/HS-PT ngày 13 tháng 9 năm 2022, Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355 và đem a khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự; hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 41/2022/HS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2022, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận để điều tra lại theo thủ tục chung.
Tại Cáo trạng số: 19/CT-VKSBT-P1 ngày 26/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố các bị cáo Nguyễn Quang S, Trần Linh S2, Trần Trung H đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận quyết định:
Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Trung H phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Trung H 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2021.
Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Trần Trung H số tiền 20.000.000 đồng, sung vào ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Quang S, Trần Linh S2, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
9
Ngày 25/01/2024, bị cáo Trần Trung H có đơn kháng cáo kêu oan.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Trần Trung H không thừa nhận hành vi phạm tội, cho rằng bị cáo không mua bán trái phép chất ma túy, không giới thiệu hay giúp đỡ Nguyễn Quang S mua ma túy; giữa bị cáo và Nguyễn Quang S, Trần Linh S2 có mâu thuẫn từ trước nên S khai báo bất lợi cho bị cáo. Do đó, kháng cáo yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét lại tội danh cho bị cáo.
Luật sư Đỗ Hải B bào chữa cho bị cáo Trần Trung H trình bày: Hồ sơ vụ án bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ dựa vào câu chữ “cơm đang mang qua” mà kết tội bị cáo là mua bán trái phép chất ma túy là không đủ căn cứ. Việc bị cáo có giao dịch 50 triệu chuyển cho bà T1 nhưng chưa được xác minh làm rõ, có sự suy diễn khi kết tội cho bị cáo H. Do đó, bị cáo kháng cáo kêu oan về hành vi là có căn cứ. Từ những căn cứ nêu trên, Bản án sơ thẩm xác định bị cáo H là đầu vụ trong vụ án mua bán trái phép chất ma túy là không có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy bản án sơ thẩm hoặc sửa bản án sơ thâm để xử phạt bị cáo với tội danh không tố giác tội phạm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Trung H về tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Căn cứ vào hồ sơ tài liệu trong vụ án, có đủ cơ sở xác định bị cáo H phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo H kháng cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình là không có căn cứ nên không được chấp nhận. Đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Đối với đơn trình bày về việc xin giảm nhẹ hình phạt đề ngày 14/3/2024 của Nguyễn Quang S, sau khi xét xử sơ thẩm, chỉ có bị cáo Trần Trung H kháng cáo, Nguyễn Quang S không kháng cáo, Viện kiểm sát có thẩm quyền không kháng nghị nên phần quyết định của bản án sơ thẩm tuyên đối với Nguyễn Quang S đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Sau khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án, ngày 14/3/2024, Nguyễn Quang S làm đơn trình bày về việc xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy, Đơn trình bày trên của Nguyễn Quang S được làm sau khi Tòa án cấp phúc thẩm đã thụ lý vụ án, có nội dung xin giảm nhẹ hình phạt trong khi Nguyễn Quang S không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo của bị cáo Trần Trung H nên Hội đồng xét xử
10
không xem xét.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Trung H không thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Tuy nhiên, căn cứ lời khai nhận của Nguyễn Quang S, Trần Linh S2 trong suốt quá trình tố tụng phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở để xác định như sau:
[2.1] Ngày 14/8/2020, Nguyễn Quang S rủ Trần Linh S2 đi vào Thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy về bán kiếm lời. Sau khi liên lạc và được Nguyễn Hoàng Minh T1 cho biết có nguồn cung cấp về ma túy thì S thuê ôtô biển kiểm soát số 86A-130.37 cùng Trần Linh S2 và Nguyễn Tam D đi vào thành phố Hồ Chí Minh. Tại nơi ở của T1, S và S2 đã mua được 105,0933 gam MDMA và 200,5689 gam Ketamine của Nguyễn Hoàng Minh T1 và Trần Trung H với số tiền 180.500.000 đồng; trong đó Nguyễn Quang S chuyển theo yêu cầu của H vào tài khoản của Nguyễn Hoàng Minh T1 số tiền 50.000.000 đồng, còn lại 98.500.000 đồng S tự chuyển vào tài khoản của Nguyễn Hoàng Minh T1, sau khi đã trừ đi số tiền 32.000.000 đồng H mượn S trước đó. Khi S, S2 đưa ma túy về đến K, Quốc lộ A, thuộc Khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận thì bị bắt quả tang.
[2.2] Bị cáo Trần Trung H kháng cáo cho rằng bị cáo không mua bán trái phép chất ma túy, không giới thiệu hay giúp đỡ Nguyễn Quang S mua ma túy; giữa bị cáo và Nguyễn Quang S có mâu thuẫn từ trước nên S khai báo bất lợi cho bị cáo, Trần Linh S2 là bạn S nên cũng cùng lời khai với S. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của Nguyễn Quang S và Trần Linh S2 trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đều thống nhất xác định khi S hỏi H: “Có cơm (Ma túy) chưa?”, thì H trả lời: “Đang mang qua”. Chính bản thân H là người gọi điện cho S chuyển tiền vào tài khoản của Nguyễn Hoàng Minh T1, H nói với S lấy ma túy để trừ số nợ 32.000.000 đồng H nợ S và H là người trực tiếp giao ma túy cho S2 để S2 chuyển cho S. Đồng thời, chính bị cáo thừa nhận có mượn tiền của S và hôm đó trả tiền trừ ma túy (BBPTST - BL 917), có trả lời với S là ma túy đang mang qua và nói với S2 cầm ma túy mang về đưa cho S, khi S cân thấy ma túy bị thiếu nên nói với H là “Đồ thiếu” thì H trả lời: “Cân lại đi, thiếu thì báo người ta” (BL 394, 396, 772, 834, 835). Ngoài ra, tại phiên tòa sơ thẩm ngày 19/5/2022, bị cáo khai có biết S mua ma túy của T1 và có nói S chuyển tiền cho T1 để trả tiền mua ma túy (BL 717, 718). Khai nhận của bị cáo H là phù hợp với lời khai của S và S2 nêu trên. Như vậy, có đủ cơ sở xác định Trần Trung H đã có hành vi cùng với T1 bán ma túy cho S và S2 với khối lượng ma túy như đã nêu trên.
[2.3] Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Trung H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không oan.
11
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Trung H.
[3.1] Bị cáo kháng cáo cho rằng không phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, như đã phân tích tại mục [2.2], có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của bị cáo như bản án sơ thẩm đã quy kết. Bị cáo cho rằng giữa bị cáo và Nguyễn Quang S, Trần Linh S2 có mâu thuẫn từ trước nên S khai báo bất lợi cho bị cáo nhưng tại phiên tòa sơ thẩm ngày 23/01/2024, bị cáo xác định có quen biết và không mâu thuẫn với S và S2 (BL 918) nên lời khai nại này của bị cáo là không có cơ sở. Do đó, kháng cáo về tội danh của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.
[3.2] Hành vi phạm tội của Trần Trung H là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo phạm tội với vai trò là người bán ma túy cho S và L; bản thân bị cáo có nhân thân xấu, từng bị kết án về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị đưa vào cơsở cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội với tính chất nghiêm trọng hơn; sau khi xảy ra vụ án bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho hoạt động điều tra, bị cáo chỉ có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoảnĐiều 51 Bộ luật hình sự, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xử phạt bị cáo 20 năm tù, bằng mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự và phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng là đã có xem xét khoan hồng cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cũng không xuất trình tình tiết giảm nhẹ nào mới nên Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo.
[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Trần Trung H phải chịu theo quy định pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Trung H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
12
Tuyên xử:
[1] Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản2 Điều 51; Điều 38; khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Trung H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Trung H 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2021.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Trung H để đảm bảo thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Trần Trung H số tiền 20.000.000 đồng, sung vào ngân sách nhà.
[2] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Trần Trung H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Văn Minh |
13
14
Bản án số 755/2024/HS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 755/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Trung H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Trung H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận
