|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 754/2024/HS-PT Ngày 28-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn
Các Thẩm phán: 1/ Ông Trần Văn Mười
2/ Ông Dương Anh Văn
Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Lê Công Thành, Kiểm sát viên cao
cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 28/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 201/2024/TLPT-HS ngày 04/3/2024. Do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đào Văn T và Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V1) đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HSST ngày 12/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo không có kháng cáo: Nguyễn Quốc H, sinh năm 1979, tại Tây Ninh; Thường trú và chỗ ở: 2 T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Nguyên Tổng giám đốc Công ty TNHH Ô; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc V và bà Đoàn Thị H1; Có vợ và 01 con sinh năm 2010; Tiền án tiền sự: không; tạm giam: 23/12/2021 (Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo:
- Ông Đào Văn T, sinh năm: 1970; Địa chỉ: B ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (có mặt).
- Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V1);
Địa chỉ: Tòa nhà S, A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo ủy quyền:
- 1/ Ông Tạ Công T1 (vắng mặt);
- 2.2/ Ông Võ Hoàng Đăng D (vắng mặt);
- 2.3/ Ông Nguyễn Bá H2 (vắng mặt);
- 2.4/ Ông K'Jac L (có mặt);
(Giấy ủy quyền số 004776.24 ngày 03/01/2024)
Cùng địa chỉ: Tầng F, Tòa nhà P, B U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, vụ án có nội dung như sau:
Công ty TNHH Ô (Công ty Ô), mã số doanh nghiệp C, địa chỉ trụ sở tại số A đường số G, C, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh do Nguyễn Quốc H là người đại diện theo pháp luật kiêm Tổng giám đốc công ty.
Website www.huythangauto.vn của Công ty Ô có quảng cáo dịch vụ thuê xe để hợp tác kinh doanh, nên nhiều cá nhân ký hợp đồng hợp tác kinh doanh xe với Công ty Ô do Nguyễn Quốc H là người đại diện pháp luật, trực tiếp ký.
Nội dung hợp đồng Công ty Ô thuê xe ô tô với giá 8.000.000đồng đến 9.000.000đồng/tháng. Hợp đồng thể hiện rõ việc Công ty Ô không được bán hay cầm cố xe thuê với bất kỳ lý do nào và giao trả xe đúng hạn trên hợp đồng. Sau khi ký hợp đồng, thời gian đầu, H có tiến hành thanh toán tiền thuê xe theo tháng, sau đó Nguyễn Quốc H đã thế chấp các xe ô tô cho các cá nhân khác là ông Đào Văn T, bà Nguyễn Thị T2, bà Cao Thị Thùy D1. Đến đầu năm 2020, H không tiếp tục trả tiền thuê xe, cắt liên lạc với khách hàng, ngừng hoạt động Công ty Ô và bỏ đi khỏi nơi cư trú. Tổng cộng Nguyễn Quốc H đã chiếm đoạt 06 xe ô tô, trị giá tương ứng số tiền 2.731.833.333đồng.
Các trường hợp bị Nguyễn Quốc H chiếm đoạt cụ thể:
Đối với ô tô Toyota Vios biển số 51G-532.28 của ông Võ Phúc T3: Ngày 13/9/2018, ông Võ Phúc Tâm G xe cho Công ty TNHH Ô theo Hợp đồng ký gửi. Đến ngày 01/11/2018, Nguyễn Quốc H đem xe thế chấp cho ông Đào Văn T theo Hợp đồng thế chấp tài sản. Ngày 25/9/2019, Nguyễn Quốc H tiến hành vay tiền và giao giấy đăng ký xe ô tô cho Cao Thị Thùy D1 và Trần Đình Tiến Đ. Giá trị ô tô 51G-532.28 theo Kết luận định giá là 415.000.000đồng.
Đối với xe ô tô Chevolet Cruze biển số 93A-114.45 của ông Trương Văn T4: Ngày 10/3/2020, ông Trương Văn T4 giao xe cho Công ty TNHH Ô T5 theo Hợp đồng hợp tác kinh doanh. Sau đó, Nguyễn Quốc H đã đem xe ô tô 93A-114.45 cùng với ô tô biển số 51G-461.17 thế chấp cho ông Đào Văn T để thay thế việc thế chấp xe ô tô 51G-532.28 (của ông Võ Phúc T3) và ô tô 51G-400.32 (không có đơn tố cáo). Giá trị ô tô 93A-1 14.45 theo Kết luận định giá là 342.000.000đồng.
Đối với xe ô tô Toyota Innova biển số 51G-461.17 của ông Nguyễn Tấn T6: Ngày 07/8/2017, ông Nguyễn Tấn T6 giao xe cho Công ty TNHH Ô theo Hợp đồng thuê xe. Sau đó, Nguyễn Quốc H đã đem xe ô tô 93A-114.45 cùng với ô tô biển số 51G-461.17 thế chấp cho ông Đào Văn T để thay thế việc thế chấp xe ô tô 51G-532.28 (của ông Võ Phúc T3) và ô tô 51G 400.32 (không có đơn tố cáo). Giá trị ô tô 51G-461.17 theo Kết luận định giá là 520.000.000đồng.
Đối với xe ô tô Suzuki Ertiga biển số 51F-891.70 của bà Trần Thị Kim T7: Ngày 16/11/2018, bà Trần Thị Kim T7 giao xe cho Công ty TNHH Ô theo hợp đồng ký gửi xe. Sau đó, Nguyễn Quốc H thế chấp ô tô 51F-891.70 cho bà Nguyễn Thị T2 để thế chấp cho khoản nợ 180.000.000 đồng trước đó của H. Giá trị ô tô 51F-891.70 theo Kết luận định giá là 507.933.000đồng.
Đối với xe ô tô Toyota Fortuner biển số 51F-018.11 của bà Hoàng Thị Thanh H3: Ngày 06/3/2020, bà Hoàng Thị Thanh H3 giao xe cho Công ty TNHH Ô theo hợp đồng ký gửi xe. Sau đó, Nguyễn Quốc H thế chấp ô tô 51F-891.70 cho bà Nguyễn Thị T2 để thế chấp cho khoản nợ 250.000.000 đồng trước đó của H. Giá trị ô tô 51F-018.11 theo Kết luận định giá là 603.567.000đồng.
Đối với xe ô tô Kia Rio biển số 78A-037.62 của bà Tạ Thị Lê L1: Ngày 12/5/2020, bà Tạ Thị Lê L1 giao xe cho Công ty TNHH Ô theo hợp đồng ký gửi xe. Sau đó, Nguyễn Quốc H thế chấp ô tô 78A-037.62 cho bà Nguyễn Thị T2 để thế chấp cho khoản nợ 170.000.000 đồng trước đó của H. Giá trị ô tô 78A-037.62 theo Kết luận định giá là 343.333.333đồng.
Xác minh tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H được biết: Công ty TNHH Ô, mã số doanh nghiệp C, địa chỉ trụ sở tại số A đường số G, City land P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Đã thay đổi đăng ký 06 lần). Đến nay Công ty TNHH Ô chưa đăng ký giải thể.
Xác minh tại địa phương, xác nhận: Nguyễn Quốc H có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ 2 T, Phường A, quận G nhưng không còn cư trú tại địa chỉ trên và tại địa chỉ số A đường số G, C, Phường A, quận G có Công ty Ô do Nguyễn Quốc H làm đại diện, thuê đặt trụ sở. Tuy nhiên công ty không còn hoạt động từ tháng 04/2020, Nguyễn Quốc H không cư trú tại địa chỉ trên.
Ngày 09/12/2021, bà Nguyễn Thị T2 tự nguyện giao nộp 03 ô tô 51F 891.70, 51F-018.11 và 78A-037.62 cho Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H.
Ngày 03/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H thi hành Lệnh khám xét nhà riêng ông Đào Văn T, phát hiện 02 xe ô tô 93A-114.45 và 51G- 461.17, tuy nhiên ông Đào Văn T không đồng ý giao nộp. Ngày 21/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H thi hành Lệnh thu giữ đồ vật tài liệu đối với 02 xe ô tô 93A-114.45 và 51G-461.17. Kết quả đã thu giữ được 02 ô tô trên. Ngoài ra, ông Đào Văn T còn giao nộp 02 Hợp đồng thế chấp tài sản, Giấy chuyến xe và 01 giấy A4 viết tay thể hiện nội dung “Nguyễn Quốc H nhận đủ 500.000.000đồng tiền thế chấp xe Inova 51G-359.75”.
Căn cứ kết quả giám định số 7492, 7493, 7494, 7495, 7496/KL-KTHS ngày 30/5/2022 của Phòng K Công an Thành phố H đối với các ô tô thu giữ tại nhà ông Đào Văn T và bà Nguyễn Thị Tâm giao N cho Cơ quan điều tra, kết luận số khung nguyên thủy, số máy nguyên thủy các xe trên không bị thay đổi.
Xác minh tại Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố H, Cục Đ2 xác định, các cá nhân tố cáo vẫn đứng tên chủ sở hữu hợp pháp đối với 05 ô tô trên.
Kết luận định giá số 1169/KL-HĐĐGTS ngày 04/3/2021, số 8297/KL HĐĐGTS ngày 24/12/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Thành phố với xe ô tô biển số 93A-114.45 trị giá 342.000.000 đồng, xe ô tô 51F-891.70 có giá trị 507.933.000đồng, xe ô tô 51F - 018.11 trị giá 603.567.000đồng.
Kết luận định giá số 2298/CV-HĐĐGTSTTTHS ngày 20/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T đối với xe ô tô biển số 51G - 461.17 trị giá: 520.000.000đồng.
Kết luận định giá số 102/KL- HĐĐGTS ngày 06/4/2020, số 214/KL- HĐĐGTS ngày 12/8/2021, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận G đối với xe ô tô biển số 78A - 037.62 trị giá: 343.333.333đồng; đối với xe ô tô biển số 51G - 532.28 trị giá: 415.000.000đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã tiến hành thu thập ảnh trên tờ khai Chứng minh nhân dân của Nguyễn Quốc H cho ông Trương Văn T4, Nguyễn Tấn T6, bà Trần Thị Kim T7, bà Hoàng Thị Thanh H3, ông Đào Văn T, bà Đoàn Nhựt P nhận dạng Nguyễn Quốc H qua ảnh, kết quả các cá nhân trên xác định H chính là đối tượng đã thuê xe của các cá nhân sau đó đem đi thế chấp.
Kết quả giám định chữ ký của Nguyễn Quốc H trên các tài liệu gốc và chữ ký của Nguyễn Quốc H trên các hợp đồng thuê xe, hợp đồng hợp tác kinh doanh là do cùng một người ký ra.
Kết luận giám định số 3153/KL-KTHS ngày 01/7/2022 của Phòng K Công an Thành phố H xác định, 02 Hợp đồng thế chấp tài sản, Giấy chuyển xe và 01 giấy A4 viết tay thể hiện nội dung “Nguyễn Quốc H nhận đủ 500.000.000đồng tiền thế chấp xe Inova 51G-359.75” do ông Đào Văn T giao nộp là do Nguyễn Quốc H ký và viết ra.
Bị can Nguyễn Quốc H khai: H là đại diện cho Công ty TNHH Ô ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng ký gửi xe, hợp đồng thuê xe với chủ sở hữu hợp pháp. Sau khi nhận xe, lúc đầu H có trả lãi, thực hiện theo hợp đồng đầy đủ. Tuy nhiên sau đó, do các hoạt động kinh doanh vay mượn tiền khác của H.
Sau đó, do không tiếp tục trả tiền theo thỏa thuận, chủ xe có yêu cầu trả lại xe nhưng H không lấy được xe giao cho chủ xe hợp pháp. Do bị nhiều người đòi nợ nên H phải cắt liên lạc, trốn tránh để không phải thực hiện nghĩa vụ cho khách hàng. H trình bày bản thân nhận thấy không cố ý bỏ trốn, do H có chủ động liên hệ với chủ xe để giải quyết.
Từ khoảng tháng 10/2020 đến đầu năm 2021, do nhà của H bị cầm cố, bán cho bà Nguyễn Thị T2 đồng thời khách hàng đòi nợ, tạt mắm tôm nên phải chuyển về C sinh sống. Sau đó, H có đi kiếm việc làm và chăm sóc bố ruột bị bệnh, quá trình đó H tham gia hoạt động bình thường, chích ngừa, ... Khi đọc được tin tức thấy bị truy nã nên đã tự nguyện đầu thú với Cơ quan điều tra.
Đối với 03 chiếc xe do bà Nguyễn Thị T2 giữ, H có cầm cố, thế chấp từ trước nhưng chuộc lại và cho bà T2 tiếp tục thuê. Đối với 02 chiếc xe do ông Đào Văn T giữ, do Công ty Ô cho thuê không liên quan đến các hợp đồng thế chấp cũ. Tất cả hợp đồng thế chấp cũ đã được kết thúc. Vào thời điểm trên, do hoạt động Công ty K1 nên H buộc lòng phải chủ động thế chấp tài sản là ô tô, tuy nhiên đã chuộc lại hết. Đối với xe ô tô do Đ, Dương giữ do H đã giao cho Đ sử dụng, sau đó D1, Đ đã giữ xe này, cắt đứt liên lạc.
Ông Trương Văn T4, chủ sở hữu xe ô tô biển số 93A - 114.45, nhãn hiệu Chevrolet Cruze, khai nhận bị Nguyễn Quốc H chiếm đoạt tài sản là xe ô tô biển số 93A - 114.45 tương tự nội dung như trên, và cho biết: Quá trình giao dịch ông Thường trực T8 làm việc với Nguyễn Quốc H là tổng giám đốc công ty. Sau khi thỏa thuận, ngày 10/3/2020, ông T4 ký kết Hợp đồng hợp tác kinh doanh xe số HTA-HDDHTKD20003 với Công ty Ô do Nguyễn Quốc H trực tiếp ký. Sau khi ký hợp đồng, cùng ngày ông T4 đã bàn giao xe cho nhân viên công ty Ô có lập biên bản bàn giao xe cùng giấy tờ. Đến tháng 7/2020, (trả tiền được 03 tháng), H không tiếp tục thanh toán tiền thuê xe, ông T4 có liên hệ nhưng không liên lạc được với H, trụ sở công ty không còn hoạt động.
Ông Nguyễn Tấn T6, chủ xe ô tô biển số 51G - 461.17, nhãn hiệu Toyota Innova, trình bày việc thỏa thuận, ký kết hợp đồng thuê xe, bàn giao xe với Công
ty Ô sau đó bị chiếm đoạt với phương thức thủ đoạn tương tự như nội dung trên, đồng thời cho biết: Ngày 07/8/2017, ông T6 ký kết Hợp đồng thuê xe số HĐ0708/2018 với Công ty TNHH Đ3, (tên cũ của Công ty TNHH Ô), do Đoàn Vĩ T9 là giám đốc chi nhánh của công ty T11 ký; Sau khi ký hợp đồng, Nguyễn Quốc H đã trả tiền thuê xe cho đến tháng 04/2020 thì không thanh toán nữa và bỏ đi đâu không rõ.
Bà Trần Thị Kim T7, chủ xe ô tô biển số 51F - 891.70, nhãn hiệu Suzuki Ertiga, trình bày việc thỏa thuận, ký kết hợp đồng thuê xe, bàn giao xe với Công ty Ô sau đó bị chiếm đoạt với phương thức thủ đoạn tương tự như trên. Đồng thời cho biết: bà T7 ký kết Hợp đồng ký gửi xe số HTA-HĐGX180065 ngày 16/11/2018 và số HTA-HDDHTKD190029 ngày 17/11/2019 (gia hạn cho thuê) với Công ty Ô, do Nguyễn Quốc H trực tiếp ký. Nguyễn Quốc H đã trả tiền cho đến tháng 02/2020 thì không thanh toán nữa, không liên lạc được với H.
Bà Hoàng Thị Thanh H3, chủ xe ô tô biển số 51F-018.11, nhãn hiệu Toyota Fortuner, trình bày việc thỏa thuận, ký kết hợp đồng thuê xe, bàn giao xe với Công ty Ô sau đó bị chiếm đoạt với phương thức thủ đoạn tương tự như trên. Đồng thời cho biết: Ngày 06/3/2020, bà H3 ký kết Hợp đồng ký gửi xe số HTA- HĐHTKD20002 với Công ty Ô, do Nguyễn Quốc H trực tiếp ký. Nguyễn Quốc H đã trả tiền cho đến tháng 06/2020 thì không thanh toán cho nữa, bà H3 có liên hệ với H yêu cầu hoàn trả xe và thanh toán tiền thuê xe nhưng H chỉ hứa hẹn mà không thực hiện, sau đó Huy ngắt liên lạc, bỏ khỏi nơi cư trú.
Bà Tạ Thị Lê L1, chủ xe ô tô 78A-037.62, nhãn hiệu Kia Rio, trình bày việc thỏa thuận, ký kết hợp đồng cho thuê xe, bàn giao xe với Công ty Ô vào ngày 12/5/2020. H trả tiền thuê xe cho bà L1 đến tháng 8/2020 thì không tiếp tục thanh toán tiền thuê xe, sau đó Huy ngắt liên lạc, bỏ khỏi nơi cư trú.
Ông Võ Phúc T3, chủ xe ô tô 51G-532.28, nhãn hiệu Toyota Vios, trình bày việc thỏa thuận, ký kết hợp đồng cho thuê xe, bàn giao xe với Công ty Ô vào ngày 14/9/2019 (gia hạn cho thuê). H trả tiền thuê xe cho ông T3 đến tháng 26/11/2019 thì không tiếp tục thanh toán tiền thuê xe. Sau đó, Huy ngắt liên lạc và bỏ đi khỏi nơi cư trú. Hiện xe ô tô của anh T3 đang được thế chấp cho bà Cao Thị Thùy D1 với giá 500.000.000đồng.
Ông Đào Văn T khai: Nguyễn Quốc H, Giám đốc Công ty Ô, là cháu ruột bên vợ của ông T, có thế chấp cho ông T 02 xe ô tô, cụ thể như sau: Lần 1: thế chấp 01 chiếc xe nhãn hiệu Toyota, loại 5 chỗ, màu vàng, biển số 51G-532.28, vào ngày 01/11/2018. số tiền vay là 450.000.000đồng (lãi suất 1% hàng tháng); Lần 2: thế chấp 01 chiếc xe nhãn hiệu Toyota Innova 2017, loại 07 chỗ, màu đồng, biển số 51G-400.32. số tiền vay là 500.000.000đồng (lãi suất 1% hàng tháng). Cả 2 lần thế chấp mà ông Nguyễn Quốc H không trả lãi, không trả lại tiền gốc theo thỏa thuận.
Đến tháng 03/2020, Nguyễn Quốc H kêu ông T đem 2 chiếc xe xuống trụ sở Công ty TNHH Ô T5 đế trả tiền và lấy xe lại. Tuy nhiên, khi T đem hai chiếc xe xuống thì H lấy chìa khóa, không trả tiền mà kêu T lấy 2 xe biển số 51G-461.17 và 93A-114.45, hẹn 01 tháng sẽ trả tiền lấy xe lại. Tuy nhiên cho đến nay H không thực hiện, khi liên hệ thì H trốn tránh, không liên lạc được, đi khỏi nơi cư trú. Ông T khẳng định không có ký kết hợp đồng thuê xe của H đối với các xe ô tô biển số 51G-532.28, 51G-400.32, 51G-461.17 và 93A-114.45.
Bà Nguyễn Thị T2, là người giữ 03 xe ô tô biển số 51F-891.70, so 51F- 018.11, số G, khai: Nguyễn Quốc H có quan hệ giao dịch làm ăn, vay mượn tiền, cầm cố tài sản từ trước. Đến khoảng tháng 07/2020, H có thiếu nợ cá nhân bà T2 số tiền là 600.000.000đồng, thông qua việc giao dịch liên quan 03 xe ô tô biển số 51F - 891.70, biển số 51F-018.11, biển số 78A-03762. Do không có tiền trả nợ, H có liên hệ đề nghị bà T2 lấy 03 xe ô tô nêu trên, tiến hành kinh doanh để cấn trừ lại số nợ này. Theo đó, ngày 18/7/2020, Nguyễn Quốc H đã giao cho bà T2 03 ô tô và lập Hợp đồng thuê xe, giữa bà T2 và Công ty TNHH Ô, do ông H đại diện ký. Tổng số tiền đặt cọc ghi trên hợp đồng là 600.000.000 đồng, bằng số tiền H còn nợ bà T2 trước đó. Bà T2 yêu cầu H phải trả lại tiền cọc thì mới trả lại xe. Do H không trả tiền nên bà T2 vẫn giữ 03 xe ô tô, cụ thể như sau:
- Hợp đồng thuê xe số 000660, ngày 17/08/2020, nội dung: Công ty Ô cho bà T2 thuê xe ô tô biển số 78A-03762, trong thời hạn 02 tháng (từ ngày 18/07/2020 đến 18/09/2020), tiền thuê là 12.000.000đồng/tháng, tiền cọc thuê xe là 170.000.000đồng.
- Hợp đồng thuê xe số 000661, ngày 17/08/2020, nội dung: Công ty Ô cho bà T2 thuê xe ô tô biển số 51F-89170, trong thời hạn 02 tháng (từ ngày 18/07/2020 đến 18/09/2020), tiền thuê là 20.000.000đồng/tháng, tiền cọc thuê xe là 180.000.000đồng.
- Hợp đồng thuê xe số 000662, ngày 17/08/2020, nội dung: Công ty Ô cho bà T2 thuê xe ô tô biển số 51F-018.11, trong thời hạn 02 tháng (từ ngày 18/07/2020 đến 18/09/2020), tiền thuê là 24.000.000đồng/tháng, tiền cọc thuê xe là 250.000.000đồng.
Ông Trần Đinh Tiến Đ1 và bà Cao Thị Thùy D1, đều xác nhận khoảng giữa tháng 9/2019, Nguyễn Quốc H nói với Đ1 cần vay tiền để mở rộng kinh doanh, nên Đ1 và Thùy D1 cho H vay 500.000.000đồng và H sẽ thế chấp lại bằng xe ô tô. Ngày 16/11/2019, H đã giao tiền lãi 17.575.000đồng và xe ô tô 51G - 532.28 để đảm bảo khoản vay. Cơ quan điều tra không xác định được nơi cư trú, không lạc được với ông Trần Đình Tiến Đ và bà Cao Thị Thùy D1 để tiếp tục ghi lời khai.
Vật chứng thu giữ:
Ngày 09/12/2021, bà Nguyễn Thị T2 tự nguyện giao nộp 03 ô tô 51F- 891.70, 51F-018.11 và 78A-037.62 cho Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H.
Ngày 21/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H thi hành Lệnh thu giữ đồ vật tài liệu đối với 02 xe ô tô 93A-114.45 và 51G-461.17 tại nhà của ông Đào Văn T.
Tại Bản Cáo trạng số 376/CTr-VKSTC-P3, ngày 26/7/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, có nội dung:
Truy tố Nguyễn Quốc H về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HSST ngày 12/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:
Căn cứ khoản 4 Điều 175; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 14 năm tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2021.
Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 30 và Điều 106 Bộ Luật tố tụng Hình sự:
- Trả lại xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Cruze đã qua sử dụng, biển số 93A- 2 114.45 cho ông Trương Văn T4.
- Trả lại xe ô tô nhãn hiệu Toyota Innova đã qua sử dụng, biển số 51G-461.17 cho ông Nguyễn Tấn T6.
- Trả lại xe ô tô nhãn hiệu Suzuki Ertiga đã qua sử dụng, biển số 51F 891.70 cho bà Trần Thị Kim T7.
- Trả lại xe ô tô nhãn hiệu Toyota Fortuner đã qua sử dụng, biển số 51F- 018.11 cho bà Hoàng Thị Thanh H3.
- Trả lại xe ô tô nhãn hiệu Kia Rio đã quasửdụng, biển số 78A-037.62 cho bà Tạ Thị Lê Ly .
- Buộc bà Cao Thị Thùy D1 trả lại xe ô tô Toyota Vios biển số 51G-532.28 cho ông Võ Phúc T3.
- Buộc bị cáo trả lại số tiền 600.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị T2.
- Tách phần dân sự liên quan đến việc bà Cao Thị Thùy D1 cho bị cáo Nguyễn Quốc H vay số tiền 500.000.000đồng để giải quyết theo trình tự tố tụng khác nếu các bên có tranh chấp.
Tách phần dân sự liên quan đến việc ông Đào Văn T cho bị cáo Nguyễn Quốc H vay số tiền 950.000.000đồng để giải quyết theo trình tự tố tụng khác nếu các bên có tranh chấp.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 297/QĐ-VKS-P3 ngày 28/7/2022 và Công văn số 14419/CTHADS-KHTC ngày 09/8/2022 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
Đối với các yêu cầu khác của các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không thuộc phạm vi xem xét của Hội đồng xét xử nên không xử lý trong vụ án này. Trường hợp các bên có tranh chấp sẽ được xem xét giải quyết theo trình tự tố tụng khác.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề về tang vật, án phí, các biện pháp tư pháp và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/01/2024 Ngân hàng TMCP Q (V1), làm đơn kháng cáo, nêu lý do:
Bản án sơ thẩm không thỏa đáng, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xử lại giao xe ô tô Toyota Innova biển số 51G - 461.17 cho ngân hàng xử lý thu hồi nợ theo hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp đã ký với bị cáo H. VIB được quyền tự phát mãi tài sản thế chấp để bảo đảm thu hồi nợ theo luật định.
Ngày 24/01/2024 ông Đào Văn T, làm đơn kháng cáo, nêu lý do:
Bản án sơ thẩm không thỏa đáng, gây thiệt hại quyền lợi của ông, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xử lại buộc bị cáo H phải trả lại cho ông Đào Văn T số tiền 950.000.000đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Phía ông T và phía ngân hàng V1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, theo đơn kháng cáo của các bên đương sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Đào Văn T và Ngân hàng TMCP Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm vì Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử có căn cứ và áp dụng đúng quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, nghe các đương sự trình bày, nghe Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q và đơn kháng cáo của ông Đào Văn T làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.
- Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:
- Bị cáo Nguyễn Quốc H đã lợi dụng pháp nhân của Công ty trách nhiệm hữu hạn Ô có địa chỉ tại trụ sở số A, đường số G, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, để ký hợp đồng hợp tác kinh doanh xe với các ông bà như: Võ Phúc T3, Trương Văn T4, Nguyễn Tấn T6, Trần Thị Kim T7, Hoàng Thị Thanh H3, Tạ Thị Lê Vi .1
Sau khi nhận xe ô tô từ các cá nhân nêu trên thông qua các hợp đồng cho thuê thì H đã thế chấp, cầm các xe ô tô cho Đào Văn T, Nguyễn Thị T2 và Cao Thị Thùy D2 để bảo đảm các khoản vay. Trong quá trình thực hiện tổng số tiền mà bị cáo H đã chiếm đoạt là 6 xe ô tô quy ra 2.731.833.333đồng.
Trong số những chiếc xe nêu trên thì có xe ô tô Innova biển số 51G-461.17 của ông Nguyễn Tấn T6. Ngày 7/8/2017, ông T6 có giao xe cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Ô theo hợp đồng thuê xe. Sau đó, bị cáo Nguyễn Quốc H đã đem xe ô tô này thế chấp cho ông Đào Văn T. Giá trị của xe ô tô nêu trên theo kết luận là 520.000.000đồng.
Qua giao dịch dân sự giữa bị cáo Nguyễn Quốc H với ông Đào Văn T, theo kết quả điều tra xác định, bị cáo đã sử dụng xe ô tô Chevrolet biển số 93A-114.45 của ông Trương Văn T4 và xe ô tô Toyota Innova biển số 51G-461.17 của ông Nguyễn Tấn T6 để vay của ông Đào Văn T với số tiền 950.000.000đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo H không thừa nhận có nhận số tiền này từ ông T. Giữa bị cáo H và ông T cũng chưa cung cấp được tài liệu trong việc giao số tiền và trả số tiền này, từ đó thể hiện không biết số tiền nợ là bao nhiêu. Tòa án cấp sơ thẩm đã tách phần dân sự liên quan đến ông Đào Văn T và bị cáo H đối với số tiền 950.000.000đồng để giải quyết theo một trình tự tố tụng khác khi các bên có tranh chấp là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đào Văn T.
- Đối với yêu cầu của phía Ngân hàng Thương mại cổ phần Q VIB liên quan đến hợp đồng tín dụng số 0579 ngày 1/8/2017 và hợp đồng thế chấp số 0579 cùng ngày 1/8/2017 giữa ngân hàng V1 và ông Nguyễn Tấn T6.
Tài sản thế chấp là xe ô tô Toyota Innova biển số 51 G-461.17, đây là tài sản thế chấp nhưng lại là tang vật của vụ án hình sự về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết trả lại tài sản cho phía người bị hại ông Nguyễn Tấn T6 là đúng quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Tấn T6 có giao dịch vay tiền và thế chấp chiếc xe cho ngân hàng là vụ việc khác. Trong đó có thế chấp tài sản là chiếc xe ô tô Toyota Innova biển số 51 G-461.17 để bảo đảm cho các khoản nợ vay, trong quá trình vay tiền giữa ngân hàng và ông Nguyễn Văn T10 không quy định việc giữ chiếc xe nêu trên để bảo đảm việc trả nợ, nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định vụ việc theo yêu cầu của phía ngân hàng là tranh chấp về vay nợ và thế chấp tài sản giữa ông T10 và ngân hàng nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết thành một vụ việc khác với quan hệ pháp luật tranh chấp khác theo quy định của pháp luật là có căn cứ đúng quy định pháp luật. Do đó không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của phía ngân hàng V1.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V1) và ông Đào Văn T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
- Về án phí phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên Ngân hàng TMCP Q và ông Đào Văn T phải chịu án phí phúc thẩm theo luật định.
Bởi các lẽ trên;
Căn cứ vào Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q và yêu cầu kháng cáo của ông Đào Văn T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên xử:
- Căn cứ khoản 4 Điều 175; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 14 (mười bốn) năm tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2021.
- Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 30 và Điều 106 Bộ Luật tố tụng Hình sự:
- Trả lại xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Cruze đã qua sử dụng, biển số 93A- 2 114.45 cho ông Trương Văn T4.
- Trả lại xe ô tô nhãn hiệu Toyota Innova đã qua sử dụng, biển số 51G-461.17 cho ông Nguyễn Tấn T6.
- Trả lại xe ô tô nhãn hiệu Suzuki Ertiga đã qua sử dụng, biển số 51F 891.70 cho bà Trần Thị Kim T7.
- Trả lại xe ô tô nhãn hiệu Toyota Fortuner đã qua sử dụng, biển số 51F- 018.11 cho bà Hoàng Thị Thanh H3.
- Trả lại xe ô tô nhãn hiệu Kia Rio đã quasửdụng, biển số 78A-037.62 cho bà Tạ Thị Lê Ly .
- Buộc bà Cao Thị Thùy D1 trả lại xe ô tô Toyota Vios biển số 51G-532.28 cho ông Võ Phúc T3.
- Buộc bị cáo trả lại số tiền 600.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị T2.
- Tách phần dân sự liên quan đến việc bà Cao Thị Thùy D1 cho bị cáo Nguyễn Quốc H vay số tiền 500.000.000đồng để giải quyết theo trình tự tố tụng khác nếu các bên có tranh chấp.
- Tách phần dân sự liên quan đến việc ông Đào Văn T cho bị cáo Nguyễn Quốc H vay số tiền 950.000.000đồng để giải quyết theo trình tự tố tụng khác nếu các bên có tranh chấp.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 297/QĐ-VKS-P3 ngày 28/7/2022 và Công văn số 14419/CTHADS-KHTC ngày 09/8/2022 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
Đối với các yêu cầu khác của các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không thuộc phạm vi xem xét của Hội đồng xét xử nên không xử lý trong vụ án này. Trường hợp các bên có tranh chấp sẽ được xem xét giải quyết theo trình tự tố tụng khác.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người có nghĩa vụ thi hành án chưa thực hiện nghĩa vụ nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời hạn chậm thi hành án.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
- Án phí phúc thẩm:
- Ngân hàng TMCP Q phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm.
- Ông Đào Văn T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0031931 ngày 20/02/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Đào Văn T đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ HOÀNG TẤN |
Bản án số 754/2024/HS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 754/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
