Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 752/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21/6/2024.

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Túy Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Phước Trinh
  2. Bà Phạm Thị Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa:

Không.

Trong ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 283/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Quốc T, sinh năm 1978

Địa chỉ: Số A, đường số F, Tổ H, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

2. Bị đơn: Bà Biện Thị Thanh T1, sinh năm 1978

Địa chỉ: Số A, đường số F, Tổ H, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn xin ly hôn ghi ngày 26 tháng 3 năm 2024, tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Quốc T trình bày như sau:

Ông và bà T1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 02, quyển số 01/2001, ngày 01/02/2001.

Trong thời gian đầu chung sống, vợ chồng rất hạnh phúc sinh sống cùng gia đình nhà ông tại xã P. Đến năm 2019, vợ chồng ông phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, trong sinh hoạt hàng ngày mỗi người một ý nên khó có tiếng nói chung. Từ đó, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã khiến cho ông cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng. Sự việc kéo dài cho đến nay, ông nhận thấy hôn nhân không đạt mục đích, đời sống chung không thể kéo dài vì mâu thuẫn hiện tại không nào thể hàn gắn được. Đến tháng 10/2019, vợ chồng ông sống ly thân mặc dù sống cùng nhà nhưng không ai quan tâm lẫn nhau. Ông cũng không muốn tiếp tục cuộc sống hôn nhân với bà T1. Nay ông làm đơn này xin Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà T1.

Về con chung: Ông và bà T1 có 01 con chung tên Lê Quốc P, sinh năm 1995 đã có gia đình riêng nên không có yêu cầu gì.

Về tài sản chung: Ông xác định không có.

Về nợ chung: Ông xác định không có.

- Bị đơn bà T1 trình bày tại bản tự khai ngày 19/5/2024 như sau:

Bà và ông Lê Quốc T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào năm 2001, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời gian đầu chung sống, vợ chồng rất hạnh phúc.

Đến năm 2019, vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Sự việc kéo dài cho đến nay, bà và ông T đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không ai muốn quan tâm, chăm sóc ai nữa. Nay bà nhận thấy hôn nhân không đạt mục đích, đời sống chung không thể kéo dài vì mâu thuẫn không thể hàn gắn được nữa. Ông T nộp đơn xin ly hôn thì bà cũng không muốn níu kéo. Bà đồng ý ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà và ông T có 01 con chung tên Lê Quốc P, sinh năm 1995. Con đã lớn nên bà không yêu cầu gì về con chung.

Về tài sản chung: Bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà xác định không có.

Do bà bận đi làm không thể trực tiếp đến Tòa để giải quyết tranh chấp ly hôn nên bà xin Tòa án giải quyết vụ án ly hôn vắng mặt bà trong các giai đoạn tố tụng của tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ đơn xin ly hôn ghi ngày 26 tháng 3 năm 2024, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn là bà Biện Thị Thanh T1 có nơi cư trú tại Số A, đường số F, Tổ H, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi.

Bị đơn bà T1 có đơn xin xét xử vắng mặt do bận công việc. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Xét yêu cầu xin ly hôn của ông T:

Ông T và bà T1 tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 02, quyển số 01/2001, ngày 01/02/2001 nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét mâu thuẫn phát sinh: Ông Tiến trình bày nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do ông do bất đồng quan điểm sống, trong sinh hoạt hàng ngày mỗi người một ý nên khó có tiếng nói chung. Từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã khiến cho ông cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng. Đến năm 2019, hai vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Bà T1 cũng xác định giữa bà và ông T sống chung không hạnh phúc, thường xuyên gây gỗ, vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm lẫn nhau nên bà đồng ý ly hôn với ông T.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để tạo điều kiện cho các đương sự hàn gắn tình cảm, đồng thời giải quyết các mâu thuẫn phát sinh nhưng bà T1 xin vắng mặt, bà T1 không yêu cầu tiến hành hòa giải. Như vậy, bà T1 và ông T không có nguyện vọng đoàn tụ và hàn gắn tình cảm vợ chồng. Ông T và bà T1 đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Xét thấy, ông T và bà T1 không còn tạo điều kiện cho nhau để thực hiện quyền, nghĩa vụ vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng trên thực tế không còn. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở.

[3] Về con chung: Ông T và bà T1 có 01 con chung tên Lê Quốc P, sinh năm 1995. Do con chung đã trưởng thành và đủ khả năng lao động nên ông bà không yêu cầu gì về con chung.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Ông T và bà T1 xác định không có, không có yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

[5] Về án phí sơ thẩm:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

  1. Về quan hệ hôn nhân:
    Cho ly hôn giữa ông Lê Quốc T và bà Biện Thị Thanh T1.
  2. Về con chung: Ông T và bà T1 có 01 con chung tên Lê Quốc P, sinh năm 1995 (đã trưởng thành và đủ khả năng lao động).
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông T và bà T1 xác định không có.
  4. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) ông T phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0019552 ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi. Ông T đã nộp đủ tiền án phí.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  1. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi;
  • - UBND xã Trung Lập Hạ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Túy Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 752/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 752/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn giữa ông T và bà T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger