TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 752/2023/DS-PT Ngày 26 - 10 - 2023 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn
Các Thẩm phán:Ông Chung Văn Kết Ông Hoàng Minh
Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Đỗ Thành Đạt – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 446/2023/TLPT-
DS ngày 03/8/2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi lại quyền sử dụng đất
và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 19/4/2023 của Tòa án
nhân dân tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1379/2023/QĐPT ngày 06/10/2023,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Bạch Thị R, sinh năm 1958 (có mặt).
- Ông Huỳnh Văn G, sinh năm 1979.
- Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1984.
- Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1977 (có mặt).
Cùng Địa chỉ: ấp Đ, xã A, huyện M, Vĩnh Long.
Địa chỉ: tổ A, khóm E, thị trấn C, huyện M, Vĩnh Long.
Người đại diện theo ủy quyền của ông G, ông T, ông N, theo văn bản ủy
quyền ngày 23/6/2020: Bà Bạch Thị R, sinh năm 1958 (có mặt).
- Bị đơn: Bà Đỗ Thị T1, sinh năm 1940 (có mặt).
Địa chỉ: ấp Đ, xã A, huyện M, Vĩnh Long.
Người đại diện của bà T1, theo văn bản ủy quyền ngày 26/11/2020: Anh Trần
Tùng L, sinh năm 1971 (có mặt).
Địa chỉ: số A, khóm C, phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Bạch Văn N1, sinh năm 1963 (Xin vắng mặt).
- Ông Trần Hoàng G1, sinh năm 1979 (xin vắng mặt).
- Ông Trần Công H, sinh năm 1957(Xin vắng mặt).
- Ông Trần Minh C, sinh năm 1960 (Xin vắng mặt).
- Ông Trần Văn K, sinh năm 1964 (Xin vắng mặt).
- Bà Trần Thị Y, sinh năm 1969 (có mặt).
- Bà Trần Kim K1, sinh năm 1967 (xin vắng mặt).
- Ông Phan Văn T2, sinh năm 1966 (xin vắng mặt).
- Ông Trần Tùng L, sinh năm 1971 (có mặt).
- Ủy ban nhân dân huyện M (xin vắng mặt).
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V (xin vắng mặt).
Cùng Địa chỉ: ấp Đ, xã A, huyện M, Vĩnh Long.
Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ: ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ:số B,đường A, phường E, thành phố V,Vĩnh Long.
Địa chỉ: số A, khóm C, phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Bạch Thị R.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo đơn khởi kiện 23/6/2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày 24/7/2020, ngày
08/01/2021 của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn là bà Bạch Thị R trình bày:
Nguyên đơn yêu cầu buộc bà Đỗ Thị T1 phải trả lại cho nguyên đơn diện tích
302m² đất (theo kết quả đo đạc) thuộc chiết thửa số 258-1 (239), tờ bản đồ số 1,
diện tích 300m², loại lúa (đất chuyên dùng khác), tọa lạc ấp Đ, xã A, huyện M, tỉnh
Vĩnh Long. Đồng thời, buộc ông Bạch Văn N1 di dời toàn bộ trụ thanh long và cây
thanh long ra khỏi thửa đất chiết 258-1 (239), bà R không hỗ trợ chi phí tháo dỡ, di
dời cho ông N1. Yêu cầu công nhận cho nguyên đơn thửa đất số 300 (242), tờ bản
đồ số 1, diện tích 301,8m² (theo kết quả đo đạc), loại đất CDK, tọa lạc ấp Đ, xã A,
huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Đồng thời, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối
với thửa 242, diện tích 300m² đất CDK được Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số M 531152 ngày 07/7/2000 cấp cho hộ Đỗ Thị T1
(theo đo đạc thực tế là thửa 300, diện tích 301,8m²). Lý do: Thửa đất 242 là cấp sai
cho bà Đỗ Thị T1.
Căn cứ cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là thửa đất số 527 cũ (thửa 239
mới), có nguồn gốc là của bà Võ Thị T3 (mẹ ruột của chồng bà R là ông Huỳnh
Văn H1) cho ông H1, ông H1 có làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày
28/9/1991 và được Hội đồng đăng ký đất xã xét cấp. Năm 1998, bà Đỗ Thị T1 có
hỏi ông H1 cho bà T1 cất 01 căn nhà chòi lá tạm trên thửa đất số 239 của gia đình
bà để cho bà T1 tiện chăm sóc ruộng vì ruộng của bà T1 nằm phía trong phần đất
của gia đình bà, gia đình bà đã để cho bà T1 sống trên phần đất này mà không có
tranh chấp gì. Ngày 12/6/2003, ông Huỳnh Văn H1 chết, bà đã kê khai đứng tên và
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 239 diện tích 300m² đất CDK,
thửa 241 diện tích 1.900m² đất lúa, thửa 324 diện tích 2.900m² đất lúa, tọa lạc ấp
Đ, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long, do Ủy ban nhân dân huyện M cấp ngày
21/5/2004. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này hiện nay bà R đang giữ, không
có thế chấp ở đâu. Lý do thửa đất này chưa được cấp giấy mới theo chương trình V
là vì cán bộ địa chính xã nói lộn thửa với bà T1 nên kêu hai bên đi sửa lại vì có lộn
qua, lộn lại, bà R có kêu bà T1 đi điều chỉnh lại nhưng bà T1 không đi nên chưa
được cấp giấy mới. Sau khi đứng tên bà yêu cầu bà T1 trả lại thửa đất trên cho bà
thì bà T1 không đồng ý. Hiện bà T1 còn tự ý cho ông Bạch Văn N1 thuê thửa đất
nêu trên để trồng thanh long làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp
pháp của gia đình bà. Trước đây mẹ chồng bà có chia cho bà T1 2.000m² đất là ở
phía sau thửa 239.
Căn cứ cho yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất 242 cũng có nguồn gốc từ mẹ
chồng bà cho chồng bà, sau khi kê khai đăng ký không biết như thế nào mà bà T1
đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong khi hiện bà
R đang quản lý, sử dụng. Sau khi được thông qua kết quả đo đạc hai thửa đất chiết
thửa số 258-1 (239), 300 (242) của Hội đồng đo đạc thì bà R thống nhất với vị trí
thửa đất và diện tích theo công văn số 502/PTNMT, ngày 02/7/2021 về việc trả lời
công văn của Tòa án nhân dân huyện Mang Thít.
Đối với yêu cầu phản tố của bà T1 yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thửa 239 thì bà R không đồng ý, vì đất của bà và bà đang đứng tên quyền
sử dụng đất.
Anh G1, anh T, anh N1, đồng ý tiếp tục ủy quyền cho bà Bạch Thị R theo văn
bản ủy quyền ngày 23/6/2020.
Ông Trần Tùng L đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Đỗ Thị T1 trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 239 của bà Võ Thị T3 mẹ ông Huỳnh Văn H1; đến
năm 1963, chính quyền V cấp cho mẹ ông là bà Đỗ Thị T1 theo chế độ nhường
cơm sẻ áo, diện tích là 3000m², bà T1 đã sử dụng ổn định phần đất trên từ năm
1963 đến nay. Năm 1971, bà T1 được chế độ cũ cấp chứng khoán số KA 077, số
thửa 1030M, mã số 436-04-04. Ngày 07/10/1993, được Ủy ban nhân dân huyện M
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 638227, thửa đất số 524, diện tích
2.360m², loại đất 2 lúa do bà Đỗ Thị T1 đứng tên, từ đó đến đến nay bà T1 đã lên
vườn trồng nhãn, đến năm 2015 cho ông N1 thuê trồng thanh long, đến năm 2018
thì ông N1 không thuê nữa, nhưng vẫn còn trụ thanh long trên đất, nhưng thực sự
ông N1 đã bỏ không lấy tài sản này nữa. Ngày 07/7/2000, Ủy ban nhân dân huyện
M tách thửa 524 thành 2 thửa, gồm thửa số 242, diện tích 300m², loại đất chuyên
dùng khác, lý do là gia đình bà T1 đã đắp mô trồng cây ăn trái và thửa số 524, diện
tích 2.836,6m², loại đất chuyên trồng lúa và đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với hai thửa đất trên cho hộ bà Đỗ Thị T1 nhưng trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ghi sai vị trí đất thực tế, phần đất số 242 không nằm giáp lộ
nhưng lại được ghi vị trí là giáp lộ nên gia đình bà T1 có báo cơ quan chức năng để
tiến hành điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 19/7/2015,
theo chương trình đo đạc Vlap thì Nhà nước thu hai giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thửa đất số 524 và thửa đất số 242; đồng thời đã cấp đổi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thửa 524 thành thửa 258, diện tích 2.836,6m², đất lúa, còn đối
với thửa 242, diện tích 300m² thì chưa cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho bà Đỗ Thị T1. Thực tế thửa đất tranh chấp số 239 bà T1 đã sử dụng ổn định, kê
khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận đối với thửa đất số 258 (theo Vlap) và
thửa đất số 242, diện tích 300m².
Nay bà T1 thống nhất với diện tích đất đo đạc thực tế đối với phần đất tranh
chấp là chiết thửa 258-1 (239), tờ bản đồ số 3 (1), diện tích 302m², đất cơ sở S
(hiện trạng là đất trồng cây lâu năm) và thửa 300 (242), tờ bản đồ số 3 (1) diện tích
301,8m², đất cơ sở S (hiện trạng là đất trồng cây lâu năm), tọa lạc ấp Đ, xã A,
huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Thực tế thửa 239 và thửa 242 là do cấp lộn thửa, cán bộ
địa chính có nói với gia đình bà T1 khi cấp giấy theo chương trình V, lý do sao cấp
lộn thửa thì không biết, vì thửa 239 gia đình bà T1 vẫn sử dụng từ trước đến nay
nhưng lại cấp cho bà R đứng tên, trong khi thửa 242 từ trước đến nay do bà R sử
dụng thì lại cấp cho bà T1 đứng tên, thực tế hai thửa đất này là giáp ranh nhau.
Thửa 242 bên bà T1 chưa nhận được giấy cấp theo Vlap.
Bà Đỗ Thị T1 không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Bạch Thị R, vì bà
T1 đã sử dụng ổn định lâu dài từ trước đến nay, không có mượn đất của bà R,
không có ai tranh chấp. Bà T1 không đồng ý trả lại đất chiết thửa 258-1 (239), tờ
bản đồ số 3 (1), diện tích 302m², đất cơ sở S (hiện trạng là đất trồng cây lâu năm),
tọa lạc ấp Đ, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thửa 239 diện tích 300m² đất CDK do Ủy ban nhân dân huyện M cấp
cho bà Bạch Thị R ngày 21/5/2004. Bà T1 đồng ý hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thửa 300 (242), tờ bản đồ số 3 (1) diện tích 301,8m², đất cơ sở S (hiện
trạng là đất trồng cây lâu năm), tọa lạc ấp Đ, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Do
đất này là đất của bà T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng
thực tế là đất của bên bà R, bà T1 không sử dụng phần đất này mà do cấp nhầm
thửa với thửa 239.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Công H, Trần Minh C, Trần Văn K, Trần Hoàng G1, bà Trần Thị
Y, Trần Kim K1 trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày của mẹ là bà Đỗ Thị
T1, không có ý kiến nào khác.
- Ông Bạch Văn N1 trình bày: Vào tháng 8/2015 ông có hợp đồng thuê đất
của bà Đỗ Thị T1 để trồng thanh long. Đến năm 2019 do trồng không hiệu quả nên
ngừng hợp đồng thuê đất của bà T1. Hiện nay còn trụ cọc để trồng thanh long trên
đất của bà T1 thì ông bỏ hết, không có tranh chấp, không yêu cầu khởi kiện trong
vụ án này.
- Ông Phan Văn T2 trình bày: Vào tháng 5/2020 ông Trần Tùng L có mượn
ông số tiền 50.000.000 đồng, có làm giấy tay, đồng thời ông L có giao cho ông giữ
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 531152, số vào sổ 31970, vào sổ ngày
07/7/2000, thửa 242, tờ bản đồ số 1, diện tích 300m², loại đất chuyên dùng khác do
hộ bà Đỗ Thị T1 đứng tên, để làm tin với nhau. Hiện ông L chưa trả tiền nên ông
còn giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông không có ý kiến gì về
việc hai bên tranh chấp đất. Ông không có yêu cầu khởi kiện ông L trong vụ án
này.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 19/4/2023 của Tòa án
nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã tuyên xử:
Căn cứ vào các Điều 26, 34, 37, 39, 147, 165 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015; Điều 99, 100, 106, 166, 195, 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 2 Luật người
cao tuổi; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn bà Bạch Thị R, anh Huỳnh
- - Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Bạch Thị R, Huỳnh Văn N,
- - Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Bạch Thị R, Huỳnh Văn N, Huỳnh
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Đỗ Thị T1:
- - Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 691319, vào sổ cấp
- - Công nhận cho bà Đỗ Thị T1 được quyền sử dụng thửa đất số 239 (theo kết
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Bạch Thị R. Giữ nguyên bản
- Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn bà Bạch Thị R, anh Huỳnh
- - Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Bạch Thị R, Huỳnh Văn N,
- - Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Bạch Thị R, Huỳnh Văn N, Huỳnh
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Đỗ Thị T1:
- - Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 691319, vào sổ cấp
- - Công nhận cho bà Đỗ Thị T1 được quyền sử dụng thửa đất số 239 (theo kết
- Chi phí khảo sát, đo đạc: Nguyên đơn đã nộp toàn bộ chi phí khảo sát, đo
- Về nghĩa vụ thi hành án:
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Bạch Thị R được miễn án phí dân sự phúc
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
- - Toà án nhân dân tối cao;
- - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
- - VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- - TAND tỉnh Vĩnh Long;
- - Cục THADS tỉnh Vĩnh Long;
- - Những người tham gia tố tụng;
- - Lưu VP; HSVA; ĐTM.
Văn N, anh Huỳnh Văn G và anh Huỳnh Văn T:
Huỳnh Văn G và Huỳnh Văn T về việc buộc bà Đỗ Thị T1 phải trả lại cho nguyên
đơn thửa 239, diện tích 300m² đất CDK do Ủy ban nhân dân huyện M cấp cho bà
Bạch Thị R ngày 28/5/2004 (theo kết quả đo đạc diện tích 302m² thuộc chiết thửa
số 258-1, tờ bản đồ số 1, hiện trạng là đất trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp Đ, xã A,
huyện M, tỉnh Vĩnh Long) và yêu cầu buộc ông Bạch Văn N1 di dời toàn bộ trụ
thanh long và cây thanh long ra khỏi thửa 239 (chiết thửa 258-1).
Kèm theo trích đo bản đồ hiện trạng khu đất ngày 24/6/2021 của Chi nhánh
văn phòng đăng ký đất đai huyện M.
Văn G và Huỳnh Văn T: Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 531152,
vào sổ cấp giấy chứng nhận số 31970 do Ủy ban nhân dân huyện M cấp cho hộ Đỗ
Thị T1 ngày 07/7/2000, thửa 242, tờ bản đồ số 1, diện tích 300m², đất CDK, tọa lạc
ấp Đ, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Nguyên đơn được quyền liên hệ với cơ quan
có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy
định của pháp luật.
giấy chứng nhận số 39763, do Ủy ban nhân dân huyện M cấp cho bà Bạch Thị R
ngày 28/5/2004, đối với thửa 239, tờ bản đồ số 1, diện tích 300m² đất CDK, tọa lạc
ấp Đ, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
quả đo đạc thuộc chiết thửa 258-1), diện tích 302m², hiện trạng là đất trồng cây lâu
năm, tọa lạc ấp Đ, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Hiện nay thửa 239 đã được
nhập lại với thửa 524, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.360m² trở thành thửa mới là số
258, tờ bản đồ số 3, diện tích 2.836,6m², do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V
cấp ngày 29/7/2015 do bà Đỗ Thị T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Kèm theo trích đo bản đồ hiện trạng khu đất ngày 24/6/2021 của Chi nhánh
văn phòng đăng ký đất đai huyện M.
Bị đơn được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến chi phí tố
tụng; án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 27/4/2023, nguyên đơn – bà Bạch Thị R có đơn kháng cáo một phần
bản án sơ thẩm, yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố
của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo, bị đơn không
rút đơn yêu cầu phản tố, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án.
Người kháng cáo nguyên đơn – bà Bạch Thị R trình bày:
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo tại
đơn kháng cáo của bà R, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Bị đơn – Bà Đỗ Thị T1 có người đại diện theo ủy quyền – ông Trần Tùng L
trình bày:
Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T1 vì
phía người kháng cáo không đưa ra tình tiết, chứng cứ nào mới để chứng minh cho
yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Bạch Thị R làm trong hạn luật định nên
hợp lệ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những
người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình
giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong
hồ sơ vụ án để bác một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu
phản tố của bị đơn là có cơ sở. Tại Tòa án cấp phúc thẩm phía bà R không đưa ra
được tình tiết, chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình
nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của bà R, giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét
xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Bạch Thị R làm trong hạn luật định, thủ
tục kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật là hợp lệ nên đủ điều kiện để thụ
lý, xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Các đương sự có đơn xin vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến
lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các
đương sự theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về nội dung kháng cáo của bà Bạch Thị R:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các
đương sự tại phiên tòa có cơ sở xác định:
[3.1] Về đối tượng tranh chấp
Theo trích đo bản đồ hiện trạng khu đất ngày 02/7/2021 của Phòng Tài
nguyên và Môi trường huyện M, phần đất tranh chấp thuộc thửa số 300 (242) (số
thửa cũ là 526), tờ bản đồ số 3 (1), diện tích 301,8m² hiện trạng do bà Bạch Thị R
đang sử dụng và thửa số 258-1 (239), tờ bản đồ số 3 (1) (số thửa cũ là 527), diện
tích 302m² hiện trạng do bà Đỗ Thị T1 đang sử dụng.
Các bên thừa nhận phần đất thuộc thửa số 300 (242), tờ bản đồ số 3 (1), diện
tích 301,8m² có nguồn gốc của bà Võ Thị T3 (mẹ chồng bà R) cho ông Huỳnh Văn
H1 (chồng bà R). Sau khi ông H1 chết thì bà R tiếp tục quản lý, sử dụng đến nay.
Phần đất này tiếp giáp với thửa đất số 525 của gia đình bà R. Nhưng khi cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thì chính quyền lại cấp giấy chứng nhận thửa đất
trên cho hộ bà Đỗ Thị T1.
[3.2] Về nguồn gốc, quá trình quản lý sử dụng đất
Phần đất tranh chấp thuộc thửa số 258-1 (239), tờ bản đồ số 3 (1) (số thửa cũ
là 527), diện tích 302m² bà R cho rằng có nguồn gốc của bà Võ Thị T3 (mẹ chồng
bà R) cho ông Huỳnh Văn H1 (chồng bà R); năm 1998 bà T1 xin ông H1 cho cất
căn nhà tạm trên phần đất này để tiện chăm sóc ruộng vì ruộng của bà T1 nằm phía
trong phần đất này, hiện phần đất tranh chấp này do bà R đứng tên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện M cấp ngày 21/5/2004. Bà T1 không
thừa nhận lời trình bày của bà R mà cho rằng phần đất này bà đã được chính quyền
V cấp 3.000m² từ năm 1963 theo chính sách nhường cơm sẻ áo, sau đó được chế
độ cũ cấp chứng khoán số tờ K A 077, diện tích 00HA.30.00, tọa lạc xã A, quận M,
tỉnh Vĩnh Long, do T9 cấp ngày 06/9/1971; bà T1 quản lý, sử dụng đất từ trước
đến nay, khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận thì chính quyền cấp nhầm Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên cho gia đình ông H1, bà R.
Các bên thừa nhận phần đất tranh chấp này do bà T1 quản lý, sử dụng từ trước đến
nay, nằm tiếp giáp với thửa đất số 524 của bà T1.
[3.3] Về quá trình đăng ký kê khai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Về phía bà Bạch Thị R:
Ngày 07/10/1993, Ủy ban nhân dân huyện M cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số phát hành tổng cục B1 638560, số vào sổ 23110, cho ông Huỳnh Văn
H1 đối với các thửa đất 517 diện tích 2.900m² đất lúa, thửa 525 diện tích 1.900m²
đất lúa, thửa 527 diện tích 300m² đất chuyên dùng khác, cùng thuộc tờ bản đồ số 1,
tọa lạc ấp Đ, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
Ngày 12/6/2003, ông Huỳnh Văn H1 chết. Sau đó bà R làm thủ tục thừa kế di
sản của ông H1.
Ngày 29/5/2004, Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất có số phát hành tổng cục Đ 691319, số vào sổ 39763 cho bà R đối với các
thửa đất số 239, diện tích 300m² loại đất chuyên dùng khác; thửa 241, diện tích
1.900m² đất lúa; thửa 324, diện tích 2.900m² đất lúa, cùng tờ bản đồ số 1, tọa lạc
ấp Đ, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
Về phía bà Đỗ Thị T1:
Ngày 28/5/1998, bà Đỗ Thị T1 có làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất
28/5/1998 và được Hội đồng đăng ký đất xã xét chấp nhận.
Ngày 07/7/2000, Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số phát hành M 531152, số vào sổ 31970 cho hộ Đỗ Thị T1 đối với thửa
đất 242, tờ bản đồ số 1, diện tích 300m², loại đất chuyên dùng khác, tọa lạc ấp Đ,
xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
Biên bản xác minh ngày 23/3/2023 đối với ông Phạm Minh Đ đã trình bày là
ông làm cán bộ địa chính xã A từ năm 2008 đến năm 2018. Trong thời gian này có
hòa giải việc tranh chấp ranh đất giữa bà R và bà T1. Trong quá trình hòa giải ông
xem sổ bộ địa chính và thực tế sử dụng thì phát hiện hai bên sử dụng sai vị trí giữa
thửa 239 và 242. Vì vậy ông có hướng dẫn hai bên xem xét để làm thủ tục cho
đúng vị trí đất. Sự việc này được chính bà R và bà T1 thừa nhận.
Ngày 04/02/2015, bà Đỗ Thị T1 đã làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thửa 524 của bà T1 và nhập thửa 239 thành thửa 258 diện tích
2.836,6m², có con bà R là Huỳnh Văn G ký tên giáp cận liền kề.
Ngày 29/7/2015, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho bà Đỗ Thị T1 đối với thửa 258, tờ bản đồ số 3, diện tích
2.836,6m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước.
Tại Công văn số 516/STNMT ngày 10/02/2023 của Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh V có nội dung: Thửa 239 (thửa cũ 527), tờ bản đồ số 1, diện tích
300m², mục đích sử dụng đất chuyên dùng khác (CDK) và thửa đất số 524, tờ bản
đồ số 1, diện tích 2.360m², đã được Sở T ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 29/7/2015 cho bà Đỗ
Thị T1 theo tư liệu bản đồ địa chính chính quy, thuộc thửa 258, tờ bản đồ số 3, diện
tích 2.836,6m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước. Theo biên bản mô tả
ranh giới, mốc giới thửa đất tháng 4/2014, thể hiện 07 chủ giáp cận liền kề, gồm:
Ông Nguyễn Văn M, bà Võ Thị Đ1, ông Huỳnh Văn G, bà Cao Thị T4, bà Cao Thị
C1, ông Bạch Văn N1 và ông Nguyễn Văn T5, thì có 06 chủ giáp cận ký tên, còn
lại ông Nguyễn Văn T5 ghi nhận “không có”. Sở T ký cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất ngày 29/7/2015 cho bà Đỗ Thị T1 trên cơ sở đơn đề nghị cấp lại, cấp
đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất ngày 04/02/2015 của bà Đỗ Thị T1, được UBND xã A xác nhận ngày
25/3/2015 và ý kiến của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện M ngày
22/4/2015, là thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định.
Vi bằng số 01/2023/VB-TPL, ngày 02/01/2023 của Văn phòng T10 có nội
dung: Ông Bạch Văn N1, bà Cao Thị C1, ông Nguyễn Hữu C2 và ông Võ Văn T6
là người biết nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của bà Đỗ Thị T1 (Bà Sáu T7), đất
của bà Đỗ Thị T1 có được do chính quyền Việt Minh cấp trước 30/4/1975, thửa số
258, tờ bản đồ số 3, diện tích theo Vlap cấp 2.836,6m² loại đất chuyên trồng lúa
nước, cấp ngày 29/7/2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp (phần đất
hình chữ nhật), nguồn gốc đất là của bà Tám T8 (là mẹ chồng bà Bạch Thị R) chạy
song song với đất bà Tám T8 (nay bà Bạch Thị R), hai bên đang quản lý và sử
dụng ổn định đến nay. Phần phía Nam giáp với đất bà T3 Thủ trước đây bán cho
ông Võ Văn T6, tiếp sau đó bán cho ông Bạch Văn N1 sử dụng cho đến nay (gốc
bờ); phía Tây giáp đất bà Dương Thị B (bà Ba Đ2) nay đã chết, để lại cho con là
Cao Thị C1 và em là Cao Thị T4, tiếp sau đó bán cho ông Bạch Văn N1 sử dụng
cho đến nay; ngoài ra còn tiếp giáp đất ông Bạch Văn X đã chết (nay chuyển
nhượng cho bà Nguyễn Thị D quản lý; phía Đông giáp đất bà Bạch Thị R đã
chuyển nhượng cho một số người khác (trong đó có con bà R là Huỳnh Văn G) và
thửa đất 242 bà Đỗ Thị T1 đứng tên cho đến nay; phần phía Bắc giáp với rạch công
cộng để nước vào làm ruộng và chở gạch mê, gạch tàu cho lò ông Mai Công H2
(B), rạch này giáp với vườn ông Nguyễn Văn M (M), hiện nay rạch công cộng đã
đặt bọng và sang lấp cát. Từ trước 30/4/1975 tới nay các ông bà thấy hộ bà Đỗ Thị
T1 sử dụng đất ổn định, từ trên giáp đầu đất của ông Bạch Văn N1 chạy dài đến
phần rạch công cộng phía dưới không tranh chấp với ai. Gia đình bà T1 có đắp mô
trồng bưởi, sầu riêng, nhãn cho đến năm 2015 ông N1 thuê dùng để trồng thanh
long trên phần đất đó (có hàng rào xung quanh), các ông bà cam kết những thông
tin về nhân thân đã ghi trong vi bằng là đúng sự thật, nếu có gian dối xin hoàn toàn
chịu trách nhiệm. Lời trình bày của ông Bạch Văn N1, bà Cao Thị C1, ông Nguyễn
Hữu C2 và ông Võ Văn T6 là phù hợp với hiện trạng sử dụng đất của bà Đỗ Thị T1
là thửa 258 (bao gồm thửa 239 và thửa 524), chứng minh thửa đất 239 (thửa cũ
527) giáp rạch công cộng là bà T1 đã sử dụng từ trước khi ông Trần Văn H3 kê
khai đăng ký theo chương trình đất, mặc dù năm 1993 ông Trần Văn H3 đứng tên
thửa 527 và đến năm 2004 bà Bạch Thị R đứng tên thửa 239 (527), trong khi phía
bà T1 đang sử dụng nhưng phía ông H3 và bà R cũng không có tranh chấp nên có
căn cứ là phía ông H3 và bà R không biết thửa 239 (527) nằm ở vị trí đất bà T1
đang sử dụng; còn phía bà T1 sử dụng thửa 239 (527) nhưng lại đứng tên thửa 242
(526), trong khi bà R đang sử dụng. Đến khi có tranh chấp ranh đất hai bên mới
biết cấp không đúng đối tượng sử dụng đất và mới phát sinh tranh chấp, phía bà Đỗ
Thị T1 cũng đồng ý hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 242, vì thực tế
bà không sử dụng.
Từ các căn cứ trên có cơ sở xác định phần đất tranh chấp thuộc thửa số 258-1
(239), tờ bản đồ số 3 (1), diện tích 302m² đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp là đất
của bà Đỗ Thị T1, do bà T1 quản lý, sử dụng ổn định từ trước đến nay, đây là phần
đất giáp rạch và tiếp giáp với thửa đất số 524 của bà T1; còn phần đất tranh chấp
thửa số 300 (242), tờ bản đồ số 3 (1), diện tích 301,8m² đất cơ sở sản xuất phi nông
nghiệp là đất của bà Bạch Thị R, do gia đình bà R quản lý, sử dụng ổn định từ
trước đến nay, đây là phần đất giáp rạch và tiếp giáp với thửa đất số 525 của bà R.
Trong quá trình ông H3 (chồng bà R), bà T1 đăng ký kê khai, làm thủ tục xin
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho hộ Đỗ Thị T1 ngày 07/7/2000 đối với thửa 242, tờ bản
đồ số 1, diện tích 300m² và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
Huỳnh Văn H1 ngày 10/7/1993 (Sau đó là giấy chứng nhận cấp cho bà Bạch Thị R
ngày 28/5/2004), đối với thửa 239, tờ bản đồ số 1 là có sự nhầm lẫn, không đúng
đối tượng sử dụng đất nên cần hủy để cấp lại cho đúng đối tượng sử dụng đất, theo
quy định của pháp luật.
[3.4] Từ các căn cứu nên tại mục [3.1], [3.2] và [3.3] có cơ sở xác định phần
đất tranh chấp 300m² thuộc thửa đất số 239 do bà T1 đang quản lý, sử dụng có
nguồn gốc do của bà Võ Thị T3 (mẹ chồng của bà R) nhưng sau đó chính cũ đã cấp
cho bà T1 từ trước năm 1975, lúc còn sống bà T3, ông H1 (chồng bà R) không có ý
kiến hay khiếu nại gì. Bà T1 đã quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp ổn định từ
trước năm 1975 đến nay, trong quá trình quản lý sử dụng, bà T1 có đăng ký kê
khai, đóng thuế đầy đủ và đã được cấp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, khi Ủy ban nhân dân huyện M cấp Giấy chứng nhận cho bà T1 thì cấp
nhầm số thửa đất mà gia đình bà R đang quản lý sử dụng dung, đồng thời cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà R thì lại cấp nhầm số thửa đất mà bà T1
đang sử dụng. Phía Ủy ban đã có yêu cầu bà T1, bà R đi làm thủ tục đính chính lại
số thửa trên 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T1, bà R nhưng phía bà
R không thực hiện mà bà R lại khởi kiện đòi lại phần đất mà bà T1 đang quản lý sử
dụng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ
Đỗ Thị T1 ngày 07/7/2000 đối với thửa 242, tờ bản đồ số 1, diện tích 300m²,
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà Đỗ Thị T1
phải trả lại cho nguyên đơn thửa 239, diện tích 300m² và buộc ông Bạch Văn N1 di
dời toàn bộ trụ thanh long và cây thanh long ra khỏi thửa 239, chấp nhận yêu cầu
phản tố của bị đơn về việc hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ
691319 cấp cho bà Bạch Thị R ngày 28/5/2004, đối với thửa 239, tờ bản đồ số 1,
diện tích 300m², công nhận cho bà Đỗ Thị T1 được quyền sử dụng thửa đất số 239
là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Bà Bạch Thị R kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm buộc bà T1 trả lại cho bà R diện tích 300m² thuộc
thửa 239, tờ bản đồ số 1, buộc ông Bạch Văn N1 di dời toàn bộ trụ thanh long và
thanh long ra khỏi thửa 239, tờ bản đồ số 1 nhưng trong quá trình giải quyết theo
thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bà R không xuất trình được chứng
cứ nào mới để Hội đồng xét xử xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở
chấp nhận kháng cáo của bà bà R; Đối với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát
tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị bác kháng cáo của bà R là có căn cứ, đúng pháp
luật, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nhận
định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử giữ nguyên
bản án sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 19/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh
Long.
[5] Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo,
không bị kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bà Bạch Thị R
không được chấp nhận nên bà R phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà
R là người cao tuổi và có đơn xin miễn đóng án phí theo đúng quy định pháp luật
nên bà R được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử sụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
án sơ thẩm số 08/2023/DS-ST_ngày 19/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh
Long:
Văn N, anh Huỳnh Văn G và anh Huỳnh Văn T:
Huỳnh Văn G và Huỳnh Văn T về việc buộc bà Đỗ Thị T1 phải trả lại cho nguyên
đơn thửa 239, diện tích 300m² đất CDK do Ủy ban nhân dân huyện M cấp cho bà
Bạch Thị R ngày 28/5/2004 (theo kết quả đo đạc diện tích 302m² thuộc chiết thửa
số 258-1, tờ bản đồ số 1, hiện trạng là đất trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp Đ, xã A,
huyện M, tỉnh Vĩnh Long) và yêu cầu buộc ông Bạch Văn N1 di dời toàn bộ trụ
thanh long và cây thanh long ra khỏi thửa 239 (chiết thửa 258-1).
Kèm theo trích đo bản đồ hiện trạng khu đất ngày 24/6/2021 của Chi nhánh
văn phòng đăng ký đất đai huyện M.
Văn G và Huỳnh Văn T: Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 531152,
vào sổ cấp giấy chứng nhận số 31970 do Ủy ban nhân dân huyện M cấp cho hộ Đỗ
Thị T1 ngày 07/7/2000, thửa 242, tờ bản đồ số 1, diện tích 300m², đất CDK, tọa lạc
ấp Đ, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Nguyên đơn được quyền liên hệ với cơ quan
có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy
định của pháp luật.
giấy chứng nhận số 39763, do Ủy ban nhân dân huyện M cấp cho bà Bạch Thị R
ngày 28/5/2004, đối với thửa 239, tờ bản đồ số 1, diện tích 300m² đất CDK, tọa lạc
ấp Đ, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
quả đo đạc thuộc chiết thửa 258-1), diện tích 302m², hiện trạng là đất trồng cây lâu
năm, tọa lạc ấp Đ, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Hiện nay thửa 239 đã được
nhập lại với thửa 524, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.360m² trở thành thửa mới là số
258, tờ bản đồ số 3, diện tích 2.836,6m², do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V
cấp ngày 29/7/2015 do bà Đỗ Thị T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Kèm theo trích đo bản đồ hiện trạng khu đất ngày 24/6/2021 của Chi nhánh
văn phòng đăng ký đất đai huyện M.
Bị đơn được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.
đạc là 3.000.000 đồng. Buộc nguyên đơn và bị đơn mỗi bên chịu 1.500.000 đồng
nên bị đơn Đỗ Thị T1 phải trả cho nguyên đơn 1.500.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi
hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành
án dân sự.
thẩm.
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Nơi nhận: | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vũ Đức Toàn |
Bản án số 752/2023/DS-PT ngày 26/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 752/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/10/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án
