TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TU TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 75/2024/HNGĐ-ST Ngày 31/7/2024 V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TU, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thành Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Huỳnh Anh Thư;
- Bà Trần Thị Mộng Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TU, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TU tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Giáp – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố TU tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 177/2024/TLST-HNGĐ ngày 14/5/2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/6/2024 và Quyết định hoãn số 46/2024/QÐST-HNGĐ ngày 15/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1991; thường trú: Tổ 4, khu phố L, phường B, thành phố TU, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bị đơn: Ông Võ Hoàng K, sinh năm 1989; địa chỉ: tổ 4, khu phố Bình Hòa 2, phường P, thành phố TU, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Đỗ Thị T trình bày:
Bà Đỗ Thị T và ông Võ Hoàng K tự nguyện sống chung và đăng ký kết hôn ngày 06/04/2015 tại UBND phường B, thành phố TU, tỉnh Bình Dương (số 20/2015, quyển số 01/2014 năm 2015). Quá trình chung sống, bà T và ông K cùng làm công nhân, vợ chồng có 02 con chung tên D, sinh ngày 23/12/2015 và Võ Hoàng Đăng K1, sinh ngày 02/01/2021. Từ năm 2022, do ông K làm ăn thua lỗ không có khả năng trả nợ nên vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã không còn tiếng nói chung; ai cũng cho mình là đúng, người kia sai nên không có sự tin tưởng nhau. Bà T hiện đã ly thân, không còn chung sống với ông K từ tháng 8/2022 cho đến nay. Hiện tại, mâu thuẩn gia đình đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà T yêu cầu được ly hôn ông Võ Hoàng K.
Về con chung và việc cấp dưỡng: Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con tên Võ Hoàng Anh D, sinh ngày 23/12/2015 và Võ Hoàng Đăng K1, sinh ngày 02/01/2021. Yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi mỗi con 1.000.000 đồng/tháng đến khi các con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Võ Hoàng K không có bản tự khai, không đến Tòa án làm việc để trình bày ý kiến của mình trước yêu cầu của nguyên đơn bà Đỗ Thị T.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:
Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định. Đại diện Viện kiểm sát không có kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình, bị đơn cư trú tại thành phố TU, nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố TU giải quyết. Căn cứ các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố TU.
Bị đơn ông Võ Hoàng K được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án : Bà Đỗ Thị T và ông Võ Hoàng K có đăng ký kết hôn tại UBND phường K Bình, thành phố TU, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 20/2015, quyển số 01/2014 ngày 06/04/2015 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo bà T trình bày, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, do ông K làm ăn thua lỗ không có khả năng trả nợ nên vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, không còn tiếng nói chung, ai cũng cho mình là đúng, người kia sai nên không có sự tin tưởng nhau. Hiện tại, bà T đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 con và không còn chung sống cùng ông K từ tháng 8/2022 đến nay.
Ông K đã nhận được thông báo thụ lý vụ án và Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông K tham gia hòa giải nhưng ông K đều vắng mặt không lí do. Mặc dù biết bà T xin ly hôn nhưng ông K không đến Tòa án trình bày nguyện vọng đoàn tụ, điều này cho thấy ông K đã không quan tâm đến việc hôn nhân với bà T, vợ chồng không còn yêu thương, chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà T là có cơ sở để chấp nhận.
[3] Thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 02 con chung tên Võ Hoàng Anh D, sinh ngày 23/12/2015 và Võ Hoàng Đăng K1, sinh ngày 02/01/2021 hiện đang sống với bà T. Tại phiên tòa, bà T vẫn yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con Võ Hoàng Anh D và Võ Hoàng Đăng K1. Xét thấy, cháu D và cháu K1 hiện nay đang sống với bà T nên cần giữ ổn định về chỗ ở để không ảnh hưởng đến tâm lý, sự phát triển bình thường của trẻ. Bà T có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Võ Hoàng Anh D và Võ Hoàng Đăng K1 cho bà T nuôi dưỡng. Bà T yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi mỗi con 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí sơ thẩm: Bà Đỗ Thị T và ông Võ Hoàng K phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 147, 228, 238, 266, 269, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị T về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn ông Võ Hoàng K.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị T được ly hôn với ông Võ Hoàng K.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Võ Hoàng Anh D, sinh ngày 23/12/2015 và Võ Hoàng Đăng K1, sinh ngày 02/01/2021 cho bà Đỗ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Võ Hoàng K có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi mỗi con 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
Bà Đỗ Thị T và ông Võ Hoàng K đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng:
- Bà Đỗ Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001413 ngày 08/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TU.
- Ông Võ Hoàng K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Võ Thành Hiệp |
Bản án số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TU, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 75/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TU, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà T yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông K
