|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ TỈNH SƠN LA Bản án số: 75/2024/HS-ST. Ngày: 31-7-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Phương Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phương Thảo và bà Trần Thị Thu Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hằng Giang –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Vì Thị Dung - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Sơn La:
- Công chức Tòa án: Ông Nguyễn Quang H – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ.
- Kiểm sát viên: Bà Mùi Thị Q
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 81/2024/TLST- ST ngày 08 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Ngân Văn H1; tên gọi khác: không; sinh năm 2002; tại huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Bản Pạo, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngân Văn H2, sinh năm: 1970 và bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
2. Vi Văn T; tên gọi khác: không; sinh năm: 2000; tại huyện M, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Bản C, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn U (Đã chết) và bà Lường Thị T1, sinh năm 1977; bị cáo sống chung như vợ chống với chị Vi Thị H3, sinh năm 2000 và có 01 con sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Không;
Các bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V kể từ ngày 22/02/2024 cho đến nay, các bị cáo có mặt tại điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện V.
Người bào chữa cho bị cáo Ngân Văn H4: Ông Đặng Văn Q1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh S. Có mặt tại điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện V.
Người bào chữa cho bị cáo Vi Văn T: Ông Nguyễn Bá L – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh S. Có mặt tại điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện V.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Ngân Văn H2, sinh năm: 1970, địa chỉ: Bản P, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại điểm cầu Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ.
Người phiên dịch cho ông Ngân Văn H2: Ông Lò Trung Q2, sinh năm: 1986; địa chỉ: Bản S, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La. Có mặt tại điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện V.
Người tham gia tố tụng khác: Thiếu tá Nguyễn Huy K, Đại úy H, Thiếu úy Ngần Anh T2 – Cán bộ Đội hỗ trợ tư pháp và thi hành án hình sự Công an huyện V. Có mặt tại điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 50 phút, ngày 22/02/2024 Tổ công tác Công an xã T, huyện V đang làm nhiệm vụ trên đường dân sinh bản Láy, xã T, huyện V đã yêu cầu Vi Văn T đang trở theo Ngân Văn H4 dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện, thu giữ trong lòng bàn tay trái của H4 đang cầm 01 túi nilon màu trắng bên trong đựng 04 gói nilon màu hồng trong đó: Gói thứ nhất và gói thứ hai đều chứa chất bột màu trắng nghi là H5; Gói thứ ba chứa 01 viên nén màu hồng; Gói thứ tư chứa 03 viên nén màu hồng trên bề mặt các viên nén màu hồng đều có ký hiệu WY. H4 và T đều khai nhận là ma túy của H4 và T mua về để cùng sử dụng. Căn cứ hành vi vi phạm của Ngân Văn H4 và Vi Văn T tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng; đồng thời dẫn giải, bàn giao Ngân Văn H1 và Vi Văn T cho cơ quan CSĐT Công an huyện V để giải quyết theo quy định của pháp luật. Thu giữ của Ngân Văn H4: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave màu đen, BKS: 36H5-126.44 đã qua sử dụng và số tiền 200.000 đồng.
Ngày 22/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã phối hợp với VKSND huyện Vân Hồ và Phòng K1 Công an tỉnh S đã tiến hành cân tịnh xác định khối lượng số vật chứng nghi là ma túy thu giữ khi bắt quả tang N Văn Hóa và Vi Văn T kết quả như sau:
- Chất bột màu trắng nghi là Heroine trong gói nilon màu hồng thứ nhất có khối lượng 0,15 gam; Lấy toàn bộ 0,15 gam chất bột màu trắng làm mẫu giám định ký hiệu H1.
- Chất bột màu trắng nghi là Heroine trong gói nilon màu hồng thứ hai có khối lượng 0,22 gam; Lấy toàn bộ 0,22 gam chất bột màu trắng làm mẫu giám định ký hiệu H2.
- Ba viên nén màu hồng trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là ma túy tổng hợp trong gói nilon màu hồng thứ ba có khối lượng là 0,31 gam; Lấy toàn bộ 0,31 gam làm mẫu giám định ký hiệu H3.
- Một viên nén màu hồng trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là ma túy tổng hợp trong gói nilon màu hồng thứ tư có khối lượng là 0,1 gam; Lấy toàn bộ 0,1 gam làm mẫu giám định ký hiệu H4.
Mẫu giám định ký hiệu H1, H2, H3, H4 được bàn giao cho Phòng K1 Công an tỉnh S giám định khối lượng, chất ma túy, loại ma túy.
Tại kết luận giám định số 577/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S kết luận:
“- Mẫu ký hiệu H1, H2 gửi giám định là ma túy; Loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, khối lượng của mẫu gửi giám định là H1= 0,15 gam, H2= 0,22 gam.
- Mẫu ký hiệu H3, H4 gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mâu gửi giám định là H3= 0,31 gam, H4= 0,1 gam.
- Tổng khối lượng thu giữ là 0,37 gam; Loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; 0,41 gam loại Methamphetamine.
- Kèm theo đối tượng giám định: Không có tài liệu kèm theo.
- H6 lại đối tượng giám định: Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định./.”
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai: Khoảng 11 giờ ngày 22/02/2024, Vi Văn T đến nhà Ngân Văn H4 chơi. Trong khi ngồi chơi, H4 rủ T góp tiền để đi đến xã T, huyện V, tỉnh Sơn La tìm mua ma túy về sử dụng và mua măng về làm quà, T đồng ý. Hóa và T thống nhất mỗi người góp 200.000 đồng trong đó 100.000 đồng để mua ma túy và 100.000 đồng để mua măng. Do H4 chỉ có 100.000 đồng nên H4 đã vay của T 100.000 đồng. T đồng ý rồi đưa cho H4 300.000 đồng. Sau đó H4 điều khiển xe máy BKS: 36H5-126.44 chở T đi đến xã T, huyện V, tỉnh Sơn La, trên đường đi Hóa đổ xăng hết 50.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, H4 và T đi đến khu vực rừng măng thuộc địa phận bản C, xã T, huyện V, tỉnh Sơn La thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi, không biết họ tên và địa chỉ. Hóa hỏi và mua được của người đàn ông dân tộc Mông đó 03 gói ma túy trong đó gói thứ nhất đựng Heroine, gói thứ hai đựng 02 viên H7 phiến, gói thứ ba đựng 03 viên H7 phiến với giá 130.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H4 và T đi vào bụi cây ven đường N lấy một viên hồng phiến và Vi Văn T lấy một ít Heroin ra mỗi người tự sử dụng riêng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể hết. Sau khi sử dụng ma túy xong, H4 chia số Heroine còn lại thành 02 gói, tiếp đến dùng túi nilon màu trắng gói chung 04 gói ma túy vào thành một gói rồi cầm trong lòng bàn tay trái. Sau đó T điều khiển xe máy BKS: 36H5-126.44 chở H4 đi về, trên đường về H4 và T đã vứt dụng cụ sử dụng ma túy ở ven đường và mua 02 chai nước hết 20.000 đồng. Đến 14 giờ 50 phút cùng ngày, H4 và T đi về đến đường dân sinh của bản Láy, xã T, huyện V, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an xã T, huyện V làm nhiệm vụ, kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Cáo trạng số: 50/CT-VKS ngày 07/7/2024 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố các bị cáo Ngân Văn H4 và Vi Văn T về tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố các bị cáo Ngân Văn H4 và Vi Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo N Văn Hóa từ 20 tháng tù đến 24 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Vi Văn T từ 19 tháng tù đến 23 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, mảnh nilon ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy đối với Ngân Văn H4 và Vi Văn T;
- Trả lại cho bị cáo Vi Văn T số tiền 200.000đ;
- Ghi nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy BKS: 36H5-126.44 cho ông Ngân Văn H2 quản lý, sử dụng.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Ngân Văn H4 và Vi Văn T: Cơ bản nhất trí với đề nghị của KSV về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhất trí đề nghị về miễn án phí cho các bị cáo cũng như đường lối xử lý vật chứng của vụ án. Tuy nhiên, các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức còn nhiều hạn chế, các bị cáo phạm tội lần đầu, khối lượng ma túy tàng trữ ít là 0,78 gam trên mức khởi điểm của khung hình phạt. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Luật sư bào chữa cho các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét toàn diện, khách quan để cho các bị cáo hưởng sự khoan hồng của Nhà nước để các bị cáo cải tạo sớm trở thành người công dân có ích. Do đó, Luật sư đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo N Văn Hóa từ 16 đến 18 tháng tù, xử phạt bị cáo Vi Văn T 18 tháng tù.
Ý kiến đối đáp của Kiểm sát viên: Giữ nguyên ý kiến như lời luận tội.
- Ý kiến của các bị cáo: Nhất trí với lời bào chữa của Luật sư, không bổ sung cũng không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên.
Ý kiến của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Nhất trí về việc đã được trả lại chiếc xe là tài sản hợp pháp của mình. Không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm.
- Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin được HĐXX giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hành vi, quyết định của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2]. Về chứng cứ xác định có tội: Ngày 22/02/2024, Ngân Văn H4 và Vi Văn T bị phát hiện bắt quả tang có hành vi cất giấu trái phép 0,41 gam Methamphetamine và 0,37 gam Heroine, tổng khối lượng ma túy tàng trữ là 0,78 gam, mục đích tàng trữ để sử dụng. Căn cứ hành vi của các bị cáo đã được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định chất ma túy loại ma túy, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa khẳng định các bị cáo đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3]. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, biết việc tàng trữ tổng 0,78 gam Methamphetamine và H5 là xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cần có mức án nghiêm khắc và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn là tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đường lối xử lý vật chứng là có căn cứ. Nên được HĐXX chấp nhận.
Xét đề nghị của Người bào chữa cho các bị cáo: Người bào chữa cho các bị cáo cơ bản nhất trí với lời đề nghị của kiểm sát viên về đường lối xét xử đối với các bị cáo, xử lý vật chứng của vụ án. Tuy nhiên, đề nghị HĐXX cân nhắc mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo Ngân Văn H4 từ 16 tháng đến 18 tháng tù, đối với bị cáo Vi Văn T là 18 tháng tù. HĐXX nhận thấy các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, cố tình thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt khác, các bị cáo tàng trữ 02 loại ma túy để sử dụng. Cần có một mức án nghiêm khắc hơn đối với các bị cáo. Do đó, đề nghị về mức án đối với các bị cáo của người bào chữa không được HĐXX chấp nhận.
Xét vai trò đồng phạm: Bị cáo Ngân Văn H4 là người khởi sướng rủ Vi Văn T cùng góp tiền để mua ma túy sử dụng, Vi Văn T đồng ý, tiếp nhận ý trí của Ngân Văn H4. Các bị cáo là đồng phạm trong vụ án. Bị cáo Ngân Văn H4 là người trực tiếp điều khiển xe máy và trực tiếp trao đổi mua ma túy nên bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án. Cần có một mức án nghiêm khắc hơn đối với bị cáo Ngân Văn H4.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do đó, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6]. Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, mảnh nilon ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy đối với Ngân Văn H4 và Vi Văn T là những vật không có giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda loại WAVE, BKS: 36H5-126.44 đã qua sử dụng thu giữ của Ngân Văn H4. Qua điều tra xác minh và tại phiên tòa xác định chiếc xe máy bị thu giữ là tài sản hợp pháp của ông Ngân Văn H2, bố đẻ của bị cáo Ngân Văn H4. Ông Ngân Văn H2 không biết và không liên quan đến việc bị cáo sử dụng chiếc xe máy trên để thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 12/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy bị thu giữ cho ông Ngân Văn H2 quản lý, sử dụng là đúng quy định. Nên được HĐXX ghi nhận.
- Đối với số tiền 200.000đ thu giữ của bị cáo Ngân Văn H4. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là số tiền hợp pháp của bị cáo Vi Văn T, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Do đó, HĐXX tuyên trả lại số tiền 200.000đ cho chị cáo Vi Văn T.
[7]. Đối với nguồn gốc số ma túy: Ngân Văn H1 và Vi Văn T khai mua được của một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi, không biết họ tên, địa chỉ. Do vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không có căn cứ để điều tra, làm rõ. Là đúng quy định.
[8]. Đối với vấn đề liên quan khác:
Đối với hành vi Ngân Văn H4 và Vi Văn T sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 22/02/2024: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định các bị cáo tự lấy ma túy, dụng cụ và tự sử dụng ma túy riêng nên hành vi của các bị cáo không phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự.
[9]. Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc đối tượng được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tại phiên tòa các bị cáo xin HĐXX miễn án phí cho các bị cáo. HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
[10]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Ngân Văn H4 và Vi Văn T phạm tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Ngân Văn H4 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2024.
- Xử phạt bị cáo Vi Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, mảnh nilon ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy đối với Ngân Văn H4 và Vi Văn T;
- Trả lại cho bị cáo Vi Văn T số tiền 200.000đ;
- Ghi nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy BKS: 36H5-126.44 cho ông Ngân Văn H2 quản lý, sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 81/BBVC-CCTHA ngày 11/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện (02 bản); - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Phương Giang |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ
