TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2024/DS-ST
Ngày: 31-7-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Mai Thuận.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Trường và ông Nguyễn Đức Binh.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Chí Bảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hải Lĩnh – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 130/2024/TLST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 129/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, giữa các bên đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS (gọi tắt là “JIVF)
Địa chỉ: Lầu 15 Tòa nhà Centec, 72-74 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: TANIGUCHI NOBORU, sinh năm 1964. Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Việt Nga. Chức vụ: Phó bộ phận quản lý công nợ (theo văn bản ủy quyền số 17 ngày 19/9/2023)
Người được ủy quyền lại: Công ty Luật TNHH Trung Tiến.
Địa chỉ: Đường Lạc Long Quân, khối Thịnh Mỹ, phường Cẩm An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thành Ch. Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Vt, sinh năm 2000.
Địa chỉ: Số 01 Bùi Giáng, khối Thịnh Mỹ, phường Cẩm An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành Ch – Luật sư Công ty luật TNHH Trung Tiến thuộc Đoàn luật sư tỉnh Quảng Nam.
- Bị đơn: Ông Phạm Quang B, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số 93, đường Điện Biên Phủ, khu phố 5, thị trấn DT, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa, Người Đại diện hợp pháp của nguyên đơn, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, Đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 13/11/2022, ông Phạm Quang B ký hợp đồng tín dụng số 835030003301189000 với Công ty Tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS (sau đây gọi tắt là JIVF) để vay số tiền 477.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm bảy mươi bảy triệu đồng) để vay mua xe ô tô theo hình thức trả góp hằng tháng với lãi suất 10.6464%/năm. Theo thỏa thuận trong hợp đồng thì ông B có trách nhiệm thanh toán bao gồm gốc và lãi trong vòng 60 tháng, mỗi tháng ông B phải thanh toán cho JIVF số tiền là 10.299.218 đồng vào trước hoặc đúng ngày 12 hàng tháng cho đến khi kết thúc hợp đồng. Ngày thanh toán đầu tiên bắt đầu từ 12/12/2022. Tài sản bảo đảm là xe ô tô MG MG 5; màu xe: xám; năm sản xuất: 2022; số khung: MMLA36U62NG035155; số máy: 15S4C5QTN9210027; biển số: 86A – 222.18 đã được Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận mã hồ sơ: 1479438273 ngày 14 tháng 11 năm 2022.
Tuy nhiên, sau khi JIVF giải ngân số tiền 477.000.000 đồng từ ngày 12/07/2023 đến nay ông B đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng trên và cố tình lẫn tránh, mặc dù JIVF đã nhiều lần gọi điện và đến nhà yêu cầu ông B thanh toán.
Việc ông B không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán đã vi phạm Điều 3, Điều 8 của Hợp đồng tín dụng số 835030003301189000 mà hai bên đã thỏa thuận và ký kết ngày 13/11/2022, đồng thời cũng vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của JIVF.
Chính vì những lẽ trên, JIVF khởi kiện ông Phạm Quang B yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đức Linh giải quyết những vấn đề sau:
1/ Công ty tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS yêu cầu ông Phạm Quang B trả cho Công ty tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS
3
số tiền nợ vay gốc là 426.434.265đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 18/12/2023 gồm: lãi 20.968.340 đồng, lãi quá hạn 347.273 đồng, phí quản lý khoản vay 72.000đồng.
2/ Trường hợp ông Phạm Quang B không trả nợ thì Công ty tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô MG-MG5, số khung MMLA36U62NG035155, số máy 15S4C5QTN9210027, biển kiểm soát 86A-222.18 theo hợp đồng thế chấp số 835030003301189000 ngày 21/10/2022 để thu hồi nợ.
3/ Công ty tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS yêu cầu ông Phạm Quang B tiếp tục chịu các khoản tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 835030003301189000 ngày 13/11/2022 kể từ ngày 18/12/2023 cho đến khi trả xong tiền nợ gốc.
Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ (thông qua cha ruột của bị đơn) thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn không cung cấp ý kiến phản đối, tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà:
Trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu ông Phạm Quang B phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ cho JIVF, số tiền tạm tính đến ngày 31/07/2024 là 489.182.619 đồng. Trong đó:
- + Nợ gốc: 426.434.265 đồng.
- + Lãi (tạm tính đến ngày 31/07/2024) là: 56.771.997 đồng.
- + Lãi quá hạn (tạm tính đến ngày 31/07/2024) là: 5.820.357 đồng.
- + Phí quản lý khoản vay (tạm tính đến ngày 31/07/2024) là 156.000 đồng.
- Buộc ông Phạm Quang B phải tiếp tục thanh toán cho JIVF tiền lãi phát sinh do nợ quá hạn, lãi quá hạn, các loại phí cho đến khi hết nợ theo hợp đồng tín dụng số 835030003301189000 ký ngày 13/11/2022.
- Xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.
Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt.
Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
4
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các bên đương sự tại phiên tòa hôm nay, xét thấy việc nguyên đơn khởi kiện là hoàn toàn có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc ông Phạm Quang B có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền nợ vay gốc là 426.434.265 đồng cùng với số tiền lãi hai bên đã thỏa thuận theo hợp đồng đã ký kết. Đồng thời, đề nghị xử lý tài sản thế chấp theo quy định.
Về án phí: Buộc ông Phạm Quang B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
(có bài phát biểu kèm theo)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ vay và lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng; bị đơn có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu phố 5, thị trấn DT, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ tranh chấp cần giải quyết theo vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
[2] Về tố tụng: Đại diện hợp pháp của nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn có đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các bên đương sự.
[3] Về chứng cứ: Tại phiên tòa, Đại diện hợp pháp của nguyên đơn cung cấp cho Hội đồng xét xử 01 đơn đề nghị vắng mặt, 01 văn bản trình bày ý kiến, 01 Dư nợ tính đến 31/7/2024, 01 bảng kê tiền lãi, lịch sử thanh toán; ngoài ra, các đương sự không nộp tài liệu, chứng cứ mới nào khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp có trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa và Tòa án đã thu thập được theo khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án.
[4] Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và do các đương sự cung cấp tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ án như sau:
[4.1] Về tính pháp lý của giao dịch dân sự:
Căn cứ vào bản sao Hợp đồng tín dụng số 835030003301189000 ký kết ngày 13/11/2022 giữa Công ty tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS với ông
5
Phạm Quang B thì có cơ sở xác định đây là hợp đồng tín dụng lập thành văn bản, có thỏa thuận lãi suất vay, mục đích vay, thời hạn vay và các thỏa thuận khác. Tại thời điểm xác lập giao dịch vay tiền hai bên đều đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các thỏa thuận không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội; do đó, Hợp đồng tín dụng số 835030003301189000 ký kết ngày 13/11/2022 giữa Công ty tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS với ông Phạm Quang B đảm bảo các quy định tại Điều 117, 118, 119, 463 của Bộ luật dân sự và Luật các tổ chức tín dụng, nên được pháp luật dân sự bảo vệ.
Căn cứ Điều 429 của Bộ luật dân sự năm 2015, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả tiền là có căn cứ và đúng quy định.
[4.2] Về xác định nghĩa vụ trả nợ vay:
Điều 280 của Bộ luật dân sự quy định về thực hiện nghĩa vụ trả tiền như sau:
“1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.
2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Tại Điều 466 của Bộ luật dân sự quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:
“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tổng số tiền nợ vay gốc và lãi tính đến ngày 31/7/2024 là 489.182.619 đồng và yêu cầu trả số tiền lãi chậm trả phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong nợ vay theo như thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ (thông qua hình thức tống đạt trực tiếp cho người thân của bị đơn và niêm yết công khai) thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn đến Tòa án tham gia tố tụng nhưng bị đơn đã có ý kiến chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nhận thấy, sau khi được cấp tín dụng theo hợp đồng đã ký kết với Công ty tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS, tính từ thời điểm ngày 14/08/2023 cho đến nay, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng và trong văn bản trình bày ý kiến, Đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tổng số tiền nợ vay gốc của Hợp đồng với số tiền là 426.434.265 đồng là có căn cứ, phù hợp với các điều khoản đã được giao kết và các điều luật đã được viện dẫn nêu trên, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.3] Về lãi suất:
6
Tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và tại Mục I của Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ tư pháp – Bộ tài chính, hướng dẫn về việc xét xử và thi hành án về tài sản, theo đó lãi suất theo hợp đồng tín dụng không bị giới hạn bởi mức trần lãi suất cơ bản mà phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng.
Trong văn bản trình bày ý kiến, Đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi, lãi quá hạn và phí quản lý khoản vay tính đên ngày 31/7/2024, cụ thể như sau:
- + Lãi (tạm tính đến ngày 31/07/2024) là: 56.771.997 đồng.
- + Lãi quá hạn (tạm tính đến ngày 31/07/2024) là: 5.820.357 đồng.
- + Phí quản lý khoản vay (tạm tính đến ngày 31/07/2024) là 156.000 đồng.
Đồng thời, Đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu bị đơn tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 01/8/2024 đến khi trả xong toàn bộ các khoản nợ là phù hợp với các thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 835030003301189000 ký kết ngày 13/11/2022 giữa Công ty tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS với ông Phạm Quang B, đồng thời phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng, Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 7, Điều 8 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Mục I của Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ tư pháp – Bộ tài chính và Án lệ 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo quyết định số 689/QĐ-CA, ngày 17/10/2016 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về xử lý tài sản thế chấp: Để đảm bảo cho các khoản vay tại Hợp đồng tín dụng số 835030003301189000 ký kết ngày 13/11/2022, ông Phạm Quang B đã ký kết hợp đồng thế chấp tài sản số 835030003301189000 –HĐTC ngày 13/11/2022, để thế chấp tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu MG, số loại MG 5; màu sơn: xám; năm sản xuất: 2022; số khung: MMLA36U62NG035155; số máy: 15S4C5QTN9210027; biển số: 86A – 222.18, tên chủ xe: Phạm Quang B, đã được Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận mã hồ sơ: 1479438273 ngày 14 tháng 11 năm 2022.
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ; Nhận thấy, yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là phù hợp với các thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp tài sản số 835030003301189000 – HĐTC ngày 13/11/2022 được ký kết giữa Công ty tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS với ông Phạm Quang B và phù hợp với các quy định tại Điều 299, 320, 323 của Bộ luật dân sự năm 2015, Nghị định số 163/NĐ-CP ngày
7
29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Nghị định 11/2012/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 10/04/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí DSST. Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
[6] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tại phiên tòa (thể hiện qua bài phát biểu số 132/PB-VKS-DS, ngày 30/7/2024) phù hợp với những nhận định nêu trên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 93; Điều 95; Điều 227, Điều 228, Điều 235, khoản 1 Điều 147; Điều 161, Điều 262; Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 280, 299, 320, 323, 357, 429, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015; các Điều 91, 94, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Án lệ 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016 (được công bố theo quyết định số 689/QĐ-CA, ngày 17/10/2016 của Chánh án Toà án nhân dân Tối cao); Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 7, Điều 8 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Nghị định 11/2012/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 10/04/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Mục I của Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ tư pháp – Bộ tài chính; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS.
Buộc ông Phạm Quang B có nghĩa vụ trả cho Công ty tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS tổng số tiền gốc và lãi, phí tính đến ngày 31/7/2024 là: 489.182.619 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm tám mươi chín triệu, một trăm tám mươi hai nghìn, sáu trăm mười chín đồng). Trong đó: số tiền nợ gốc là 426.434.265 đồng, tiền lãi là 62.592.354 đồng, phí quản lý khoản vay là 156.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số
8
- 835030003301189000 ký kết ngày 13/11/2022 giữa Công ty tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS với ông Phạm Quang B.
- Về xử lý tài sản bảo đảm:
Trường hợp ông Phạm Quang B không thực hiện nghĩa vụ thanh toán ngay sau khi Bản án này có hiệu lực pháp luật thì Công ty tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản bảo đảm tại Hợp đồng thế chấp tài sản số 835030003301189000 -HĐTC ký ngày 13/11/2022, đối với tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu MG, số loại MG 5; màu sơn: xám; năm sản xuất: 2022; số khung: MMLA36U62NG035155; số máy: 15S4C5QTN9210027; biển số: 86A – 222.18, tên chủ xe: Phạm Quang B, đã được Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận theo mã hồ sơ: 1479438273 ngày 14 tháng 11 năm 2022, để thu hồi nợ.
- Về án phí:
- Buộc ông Phạm Quang B phải nộp số tiền 23.567.000đồng (bằng chữ: hai mươi ba triệu, năm trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Án phí nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
- Trả lại cho Công ty tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS số tiền 10.956.000 (bằng chữ: mười triệu, chín trăm năm mươi sáu nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo các biên lai thu tiền số: 0004357 ngày 29 tháng 3 năm 2024.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Thuận |
Bản án số 75/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 75/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
