TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-5-2024 V/v: tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Hồng Gái
- Ông Nguyễn Văn Đoạt
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Tững- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 193/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Thị H, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ G, ấp V, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1965; địa chỉ: Tổ G, ấp V, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Các đương sự vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn đề ngày 08/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Thị H trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn K chung sống với nhau từ năm 1995 nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, ông bà có 03 người con chung: Nguyễn Thành T, sinh ngày 28/10/1995; Nguyễn Thúy H1, sinh ngày 01//01/1997 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 26/11/2002, hiện nay các con đều trưởng thành và có cuộc sống riêng. Thời gian chung sống những năm gần đây, giữa ông bà thường phát sinh mâu thuẫn. Mỗi lần nhậu, ông K thường kiếm cớ gây chuyện với bà. Bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông K, để mỗi người bắt đầu một cuộc sống mới. Về con chung, các con đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung không có và bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn văn K1 trình bày: Ông và bà Thị H chung sống với nhau từ năm 1994 nhưng không đăng ký kết hôn. Ông bà có 03 con chung như bà H trình bày. Quá trình chung sống, ông đi biển, bà H ở nhà có người đàn ông khác, ông khuyên ngăn nhiều lần nhưng bà H không từ bỏ. Do đó, bà H yêu cầu ly hôn ông cũng đồng ý. Về con chung, tài sản chung và nợ chung ông thống nhất theo ý kiến của bà H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho ông K1, bà H, nhưng ông bà không có mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1, Điều 227 và khoản 1, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông K1 chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1995 nhưng không đăng ký kết hôn. Theo quy định tại khoản 1, Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình thì: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Do đó, quan hệ chung sống giữa bà H và ông K1 không được pháp luật công nhận. Thời gian chung sống những năm gần đây, giữa ông, bà thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thiếu sự quan tâm, thương yêu và chăm sóc lẫn nhau. Bà H không còn tình cảm với ông K1 và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, ông K1 cũng không còn tình cảm với hà H nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2, Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình, không công nhận bà H và ông K1 là vợ chồng là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống, ông bà có 03 người con chung là Nguyễn Thành T, sinh ngày 28/10/1995; Nguyễn Thúy H1, sinh ngày 01//01/1997 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 26/11/2002, hiện nay các con đều trưởng thành, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H cho rằng bà và ông K1 chung sống không có tài sản chung, không có nợ chung và bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà H phải có nghĩa vụ nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 14 và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận bà Thị H và ông Nguyễn Văn K là vợ chồng.
- Về con chung: Các con đã trưởng thành, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã tạm nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000999 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, bà H đã nộp xong.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Tuyết Mai |
Bản án số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 75/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thị H và Nguyễn Văn K ly hôn
