Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HS-ST

Ngày 30 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Thúy Duy và bà Nguyễn Thị Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 254/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Huỳnh Mỹ D, sinh ngày 30/3/2006 tại huyện A, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật giáo Hòa hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh H và bà Huỳnh Thị C; Chồng, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Bị hại: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1964 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn T: Bà Quách Thị V, sinh năm 1960, cư trú: tổ A, khóm G, đường T, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang – Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

Ông Trần Thanh H, sinh năm: 1976, nơi cư trú: khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang – Có mặt.

Bà Nguyễn Thị Mỹ D1, sinh năm 1975, cư trú: ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang – Có mặt.

Người làm chứng: Em Trần Tiểu Bảo N; Em Đỗ Ngọc T1; Bà Phan Thị X -

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 11/02/2024, Trần Huỳnh Mỹ D tham gia uống bia cùng với Nguyễn Thị Bích V1, Trần Tiểu Bảo N và Đỗ Ngọc T1 tại nhà của V1 thuộc khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày cả nhóm nghỉ nhậu, T1 và N đi về. Riêng D tiếp tục đến nhậu tại nhà của Nguyễn Thị Tố T2 cùng khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang, khoảng 1-2 ly bia thì về nhà nghỉ.

Khoảng 20 giờ cùng ngày, D thấy xe mô tô BKS 67G1-248.54 của Trần Thanh H (cha của D) đang nhậu trong nhà nên tự ý lấy xe điều khiển, đến rủ V1 cùng đi thành phố C mua thức ăn để tiếp tục ăn uống. Lúc này, V1 thấy D còn say nên điều khiển xe chở D một đoạn thì đổi sang cho D điều khiển. Khi chạy đến cầu C thấy lực lượng giao thông đang làm nhiệm vụ thì D quay đầu xe chạy về, thấy D có biểu hiện say xỉn nên V1 yêu cầu D dừng xe và không tiếp tục đi cùng. Duyên một mình điều khiển xe đến khu vực Km 06+00 thuộc khóm H, chạy với tốc độ nhanh, không làm chủ được tay lái, lấn sang làn đường bên trái theo chiều đi và xảy ra va chạm với xe mô tô BKS 67B1-322.19 do anh Nguyễn Văn T điều khiển theo hướng ngược lại. Kết quả làm anh T và D cùng ngã xuống đường, cả hai được người dân đưa đi cấp cứu nhưng do vết thương quá nặng nên anh T tử vong trên đường, D bị thương nhập viện điều trị đến ngày 13/02/2024 thì xuấn viện.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha, biển số 67G1-248.54, màu đỏ, đã bị hư hỏng; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha, biển số 67B1-322.19, màu đen bạc, đã bị hư hỏng; Các mảnh nhựa vỡ, dép nam, dép trái nữ và mũ bảo hiểm màu đen (đã qua sử dụng).

Tại kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và tử thi phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.

Theo kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Trần Huỳnh Mỹ D ngày 11/02/2024 là 0,796 miligam/1 lít khí thở.

Tại Kết luận giám định tử thi số 35/24/KLGĐTT-TTPY ngày 12/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A ghi nhận Nguyễn Văn T:

  1. Các kết quả chính:
    • Sây sát vùng đầu, cổ, ngực, tay và chân;
    • Chảy máu mũi và ống tai trái;
    • Sờ nắn cổ thấy lỏng lẻo;
    • Bầm tụ máu quanh cột sống cổ;
    • Gãy trật đốt sống cổ C1-C2, đứt dây chằng vàng, chèn ép tủy.
  1. Kết luận: Nguyên nhân chết do gãy trật cột sống cổ, chèn ép tủy.

Căn cứ kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 36/KLGDDT-TTPYCT ngày 11/3/2024 của Trung tâm pháp y thành phố C kết luận: Tại thời điểm giám định ngày 08/3/2024 Trần Huỳnh Mỹ D có độ tuổi 17 năm 06 tháng đến 18 năm 00 tháng.

Ngày 10/4/2024, D bị khởi tố điều tra.

Tại Cáo trạng số: 58/CT-VKSTT-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú đã truy tố Trần Huỳnh Mỹ D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Trần Huỳnh Mỹ D khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Thanh H, Nguyễn Thị Mỹ D1 giữ nguyên lời trình bày trong quá trình điều tra, truy tố, không trình bày bổ sung.

Người làm chứng Trần Tiểu Bảo N, Đỗ Ngọc T1, Phan Thị X vắng mặt tại phiên toà nhưng lời khai trong quá trình điều tra trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 54, 91 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Huỳnh Mỹ D từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không yêu cầu áp dụng.

Về biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do

đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên toà, những người làm chứng vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Trần Huỳnh Mỹ D đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 20 giờ ngày 11/02/2024, tại km 06+00 thuộc khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang, bị cáo D một mình điều khiển xe mô tô mang biển số BKS 67G1-248.54 tham gia giao thông khi không có giấy phép lái xe và nồng độ cồn 0,796mg/1 lít khí thở cao hơn quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP30/12/2019 (sửa đổi tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP28/12/2021) về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Bị cáo điều khiển xe với vận tốc nhanh, thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tay lái, lấn sang phần đường bên trái, xảy ra va chạm với xe mô tô BKS 67B1-322.19 do anh Nguyễn Văn T điều khiển theo hướng ngược lại, làm anh T cùng phương tiện ngã xuống đường. Hậu quả, bị hại T chết trên đường đi cấp cứu; còn D bị thương nhập viện điều trị đến ngày 13/02/2024 thì xuất viện.

Hành vi nêu trên của bị cáo D vi phạm khoản 8, 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 về việc khi tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an toàn công cộng, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, tính mạng con người, tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm quần chúng nhân dân bất bình và lo lắng khi tham gia giao thông. Do đó, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Tại thời điểm phạm tội, bị cáo dưới 18 tuổi nhưng bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ tác hại của việc có rượu, bia khi tham gia giao thông, nhận thức rõ bản thân không có giấy phép lái xe nhưng vẫn điều khiển và chạy với tốc độ nhanh dẫn đến không điều khiển được tay lái, lấn sang phần đường bên trái phạm qua phần đường mà các bị hại điều khiển dẫn đến hậu quả như trên, điều đó cho thấy lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Bị hại điều khiển xe, đi đúng phần đường nên không có lỗi trong vụ án này.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo và trong thời gian cho tại ngoại bị cáo không vi phạm nào khác, chứng tỏ bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải của mình. Mặc khác, bị cáo có trình độ học vấn tương đối thấp, hoàn cảnh gia đình đơn chiếc mẹ bỏ đi, cha bệnh tai biến mất khả năng lao động nhưng sau khi gây ra tai nạn bị cáo và gia đình đã nổ lực để bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và đủ điều kiện áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào. Tuy tính chất vụ án là nghiêm trọng, hậu quả chết người không thể khắc phục được, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để xử phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, đại diện của bị hại là bà Quách Thị V yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền mai tang phí 77.950.000₫ gồm các khoản mua áo quan 13 triệu; mua đất chôn cất và xây mộ 32 triệu; thuê rạp, bàn ghế 1,5 triệu; chi phí ăn uống đãi khách 6 triệu; thuê kèn thổi đám 6 triệu; bồi dưỡng cúng tụng 3,4 triệu; bồi dưỡng đạo tỳ 2,7 triệu; đồ cúng 1,35 triệu; đi chợ đãi khách cúng thất, 100 ngày 12 triệu. Chi phí sửa chữa xe 7.406.000đ. Phí tổn thất sức khỏe, tinh thần theo quy định pháp luật.

Căn cứ các điều 589, 590 của Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại phiên tòa hôm nay, bà V trình bày có các chứng từ chứng minh cho các khoản mai tang phí nhưng bà không mang theo nên không cung cấp được. Do đó, đối với khoản phí bồi dưỡng thuê kèn thổi đám 6 triệu, cúng tụng 3,4 triệu, bồi dưỡng đạo tỳ 2,7 triệu là chi phí không cần thiết nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Đối với phí sửa chữa xe 7.406.000đ theo hóa đơn sửa chữa xe (BL 183) Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với phí tổn thất sức khỏe và tinh thần: Tại thời điểm xảy ra tai nạn, mức lương cơ sở là 1.800.000đ. Hậu quả mà hành vi của bị cáo gây ra là không thể nào bù đắp được nhưng tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, gia đình bị cáo rất khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định mức bồi thường bằng 55 lần x 1.800.000đ = 99.000.000đ

Phía bị hại đã nhận trước 40.000.000đ nên số tiền bồi thường bị cáo phải tiếp tục bồi thường là 99 triệu + 7.406.000đ + 77.950.000đ – 40 triệu – 12,1 triệu = 132.256.000đ

[7] Về vật chứng:

Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A đã trao trả xe mô tô BKS 67B1-322.19 cho bà Quách Thị V là vợ ông Nguyễn Văn T là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với 01 xe mô tô hiệu BKS 67G1-248.54 xác định của ông Trần Thanh H, bị cáo tự ý lấy xe điều khiển gây tai nạn, ông H không biết và cũng không giao xe cho bị cáo sử dụng nên Hội đồng xét xử trả lại cho ông H, đồng thời không xem xét trách nhiệm của ông H trong vụ án này.

Đối với các mảnh nhựa vỡ, dép nam, dép trái nữ và mũ bảo hiểm màu đen (đã qua sử dụng) là vật chứng cơ quan điều tra thu giữ. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, Điều tra viên đã để thất lạc, Hội đồng xét xử nhận thấy các vật chứng không còn giá trị sử dụng, việc mất vật chứng không làm ảnh hưởng đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử; các đương sự không có nhu cầu nhận lại nên không ảnh hưởng đến quá trình thi hành án. Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện A đã tiến hành kiểm điểm, rút kinh nghiệm nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Huỳnh Mỹ D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 54, 91 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Trần Huỳnh Mỹ D 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Căn cứ các Điều 589, 590 của Bộ luật dân sự 2015 buộc bị cáo Trần Huỳnh Mỹ D phải bồi thường thiệt hại số tiền 132.256.000đ (Một trăm ba mươi hai triệu hai trăm năm mươi sáu ngàn đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành đầy đủ khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: trả lại cho ông Trần Thanh H 01(một) xe mô tô hiệu BKS 67G1-248.54 (đặc điểm theo như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện A và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú).

Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Trần Huỳnh Mỹ D phải chịu 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 6.612.800đ án phí dân sự sơ thẩm.

Án tuyên công khai có mặt bị cáo, người đại diện hợp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện An Phú;
  • - Công an huyện An Phú;
  • - CQTHAHS Công an huyện An Phú;
  • - Nhà tạm giữ - Công an huyện An Phú;
  • - Chi cục THADS huyện An Phú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thảo Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 75/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BC D điều khiến xe gây tai nạn chết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger