|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30-5-2024.
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đàm Thị Bích Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Tây
Ông Nguyễn Văn Bạn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kiều Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giỏi Mạnh P - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 841/2023/TLST-HNGĐ ngày 02/10/2023 về tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/4/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 29/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10/5/2024 giữa:
* Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm: 1992
Trú tại: Thôn Q, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Bị đơn: Ông Hồ Bảo N, sinh năm: 1992
Nơi cư trú cuối cùng: Lô C, đường F, khu đô thị L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt, theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 11/2022/QĐST-VDS ngày 14/6/2022 của Toà án nhân dân thành phố Nha Trang).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày: Bà và ông Hồ Bảo N là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 46 ngày 14/12/2015. Bà H cho rằng thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, nhiều năm nay giữa bà và ông N xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng không còn và đã sống ly thân mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Năm 2018, ông N bỏ nhà đi không có tin tức gì. Mặc dù gia đình đã cố gắng tìm kiếm nhưng không có kết quả. Ngày 14/6/2022, Toà án nhân dân thành phố Nha Trang đã ban hành Quyết định số 11/2022/QĐST-VDS tuyên bố ông Hồ Bảo N mất tích theo đơn yêu cầu của bà. Đến nay tình cảm vợ chồng không còn, nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn ông Hồ Bảo N.
- Về con chung: Ông bà có một con chung là cháu Hồ Kiến V, sinh ngày 05/01/2016. Sau khi ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu V đến khi con chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với ông Hồ Bảo N do đã bỏ đi và đã có Quyết định tuyên bố mất tích nên Toà án nhân dân thành phố Nha Trang không thể triệu tập để lấy lời khai và hoà giải được.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì.
- Về nội dung vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H và cho bà H được ly hôn với ông N.
+ Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Hồ Kiến V, sinh ngày 05/01/2016 cho bà Trần Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Bà H không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về án phí: Bà H phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
- Quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là tranh chấp quan hệ hôn nhân gia đình về ly hôn, con chung vì vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm.
- Bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại Lô C, đường F, khu đô thị L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Hồ Bảo N đã mất tích. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2]. Về nội dung:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H và ông Hồ Bảo N tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 46 ngày 14/12/2015 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Giữa bà H và ông N đã xảy ra nhiều mâu thuẩn nên vợ chồng không còn tình cảm yêu thương và quan tâm chăm sóc cho nhau, bỏ mặc nhau nhiều năm, từ năm 2018 đến nay ông N bỏ nhà đi không có tin tức gì. Ngày 14/6/2022, Toà án nhân dân thành phố Nha Trang đã ban hành Quyết định số 11/2022/QĐST-VDS tuyên bố ông Hồ Bảo N mất tích theo đơn yêu cầu của bà H. Do đó, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H được ly hôn với ông Hồ Bảo N, theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
2.2. Về con chung: Bà Trần Thị H và ông Hồ Bảo N có một con chung là cháu Hồ Kiến V, sinh ngày 05/01/2016. Sau khi ly hôn, bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu V còn nhỏ và hiện nay đang ở cùng mẹ tại tỉnh Quảng Trị. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy giao con chung cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ.
2.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
[3]. Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[4]. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 51; khoản 2 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H.
- Về hôn nhân: Bà Trần Thị H được ly hôn ông Hồ Bảo N.
- Về con chung: Giao cháu Hồ Kiến V, sinh ngày 05/01/2016 cho bà Trần Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Hồ Bảo N không cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu.
Ông Hồ Bảo N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con khi cần thiết cha, mẹ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung hoặc khi có căn cứ theo điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị H không yêu cầu nên không xem xét.
2. Về án phí: Bà Trần Thị H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0012123 ngày 18/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà Trần Thị H đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đàm Thị Bích Ngọc |
5
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn
- Số bản án: 75/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị H - Hồ Bảo N
