|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30/5/2024
Về việc: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Mỹ Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tua
- Bà Trần Thị Bé Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hol – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 30/5/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 347/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/11/2023 về việc Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2024/QĐST-DS ngày 10/5/2024 giữa các đương sự :
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Đ, sinh năm: 1959
- Bị đơn: Ông Hồ Văn B, sinh năm: 1953.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng C.
Địa chỉ: ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: Số A, phố L, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T – Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Ngọc T1 – Giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Bùi Xuân K - Phó
1
Giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C.
(Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Phạm Thị Đ trình bày: Bà Phạm Thị Đ và ông Hồ Văn B tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn do không cùng quan điểm hôn nhân không còn hạnh phúc. Ông bà đã ly thân 02 năm nay. Nay bà yêu cầu ly hôn với ông Hồ Văn B.
Về con chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Nợ ngân hàng Chính sách xã hội số tiền 60.000.000 đ. Bà yêu cầu ông Hồ Văn B chịu trách nhiệm trả nợ vì bà không yêu cầu chia tài sản.
Đối với bị đơn ông Hồ Văn B mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng C có yêu cầu độc lập, trình bày:
Căn cứ hợp đồng vay vốn giữa ông Hồ Văn B và Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C:
- Khế ước số 6600000712244215, ngày vay 20/3/2018, thời hạn thanh toán 20/3/2025. Nợ gốc 40.000.000 đ, chương trình cho vay hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn. Tính đến ngày 20/12/2023 nợ gốc là 40.000.000 đ, nợ lãi 5.065.472 đ.
- Khế ước số 6600000715867669, ngày vay 24/7/2019, hạn trả 20/8/2024, nợ gốc 20.000.000 đ, chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Tính đến ngày 20/12/2023 nợ gốc là 20.000.000 đ, nợ lãi 2.939.446 đ.
Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C yêu cầu ông Hồ Văn B và bà Phạm Thị Đ trả số tiền còn nợ tổng cộng là 60.000.000 đ nợ gốc, 8.004.918 đ nợ lãi.
2
Trong quá trình giải quyết vụ án bà Phạm Thị Đ đã nộp cho Tòa án trích lục kết hôn, bản sao căn cước công dân, đơn xin xác nhận, giấy ủy quyền. Ngân hàng C đã nộp cho Tòa án bản sao hồ sơ vay vốn và bảng kê tính lãi.
Tại phiên tòa nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
Kiểm sát viên phát biểu về việc thụ lý và giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Thị Đ được ly hôn với ông Hồ Văn B.
Về con chung: Không có nên không xem xét.
Về tài sản chung: không yêu cầu nên không xem xét. Về nợ chung: Buộc bà Phạm Thị Đ và ông Hồ Văn B có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng C.
Về án phí: Nguyên đơn được miễn án phí theo quy định. Bị đơn phải chịu án phí đối với trách nhiệm trả nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đối với ông Hồ Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Hồ Văn B theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: bà Phạm Thị Đ và ông Hồ Văn B tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tạo điều kiện để cho bà Phạm Thị Đ và ông Hồ Văn B hòa giải với nhau nhưng không mang lại kết quả. Xét thấy hôn nhân phải dựa trên sự tự nguyện và phải có sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Nhưng đối với hôn nhân của bà Phạm Thị Đ và ông Hồ Văn B đã phát sinh mâu thuẫn và không còn sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau nữa. Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa ông bà đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cho bà Phạm Thị Đ được ly hôn với ông Hồ Văn B.
[3]. Về con chung: Ông bà không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.
3
[4]. Về tài sản chung và nợ chung:
Về tài sản chung bà Phạm Thị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Khi có yêu cầu thì bà có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
Về nợ chung: Bà Phạm Thị Đ trình bày có nợ của Ngân hàng C số tiền gốc là 60.000.000 đ.
Ngân hàng C có yêu cầu độc lập, yêu cầu ông Hồ Văn B và bà Phạm Thị Đ chịu trách nhiệm trả nợ theo Khế ước số 6600000712244215 và Khế ước số 6600000715867669. Tổng số tiền gốc là 60.000.000 đ và nợ lãi tính đến ngày xét xử là 10.401.629 đ và tiếp tục tính lãi đến ngày trả hết nợ. Căn cứ vào hồ sơ vay vốn của Ngân hàng C xã hội thể hiện ông Hồ Văn B có vay số tiền như bà Phạm Thị Đ và và đại diện Ngân hàng trình bày là đúng. Do bà Phạm Thị Đ và ông Hồ Văn B vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu là có cơ sở. Tại phiên tòa bà Phạm Thị Đ thống nhất chịu trách nhiệm trả ½ số tiền nợ gốc và lãi theo yêu cầu của Ngân hàng.
Do bà Phạm Thị Đ và ông Hồ Văn B ly hôn nên Hội đồng xét xử xác định nghĩa vụ trả nợ của mỗi người trong tổng số nợ Ngân hàng để thuận lợi trong việc thực hiện nghĩa vụ của bà Phạm Thị Đ và ông Hồ Văn B.
Đối với khoản vay theo khế ước số 6600000712244215 bà Phạm Thị Đ có nghĩa vụ trả ½ số tiền nợ gốc là 20.000.000 đ, ½ số tiền nợ lãi là 3.331.639 đ. Đối với khoản vay theo khế ước số 6600000715867669 bà Phạm Thị Đ có nghĩa vụ trả ½ nợ gốc là 10.000.000 đ, ½ số tiền nợ lãi là 1.869.175 đ. Tổng cộng nợ tiền gốc là 30.000.000 đ, nợ tiền lãi là 5.200.814 đ.
Đối với khoản vay theo khế ước số 6600000712244215 ông Hồ Văn B có nghĩa vụ trả ½ số tiền nợ gốc là 20.000.000 đ, ½ số tiền nợ lãi là 3.331.639 đ. Đối với khoản vay theo khế ước số 6600000715867669 ông Hồ Văn B có nghĩa vụ trả ½ nợ gốc là 10.000.000 đ, ½ số tiền nợ lãi là 1.869.175 đ. Tổng cộng nợ tiền gốc là 30.000.000 đ, nợ tiền lãi là 5.200.814 đ.
Ngoài ra kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Phạm Thị Đ và ông Hồ Văn B còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi
4
suất mà bà Phạm Thị Đ và ông Hồ Văn B phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
[5]. Về án phí: Theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án. Nguyên đơn bà Phạm Thị Đ là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn án phí nên không phải chịu án phí. Đối với ông Hồ Văn B vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và cũng không có đơn yêu cầu miễn án phí nên ông Hồ Văn B phải chịu án phí theo quy định.
Đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 5, 6, khoản 1 Điều 28, 35, 39, 91, 271, 273, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 37, 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Đ, bà Phạm Thị Đ được ly hôn với ông Hồ Văn B.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng C.
Buộc bà Phạm Thị Đ có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C số tiền 35.200.814 đ (Ba mươi lăm triệu hai trăm ngàn tám trăm mười bốn đồng). (Trong đó nợ gốc 30.000.000 đ, nợ lãi là 5.200.814 đ). (Bao gồm khoản vay theo khế ước số 6600000712244215 số tiền nợ gốc là 20.000.000 đ, số tiền nợ lãi là 3.331.639 đ, khoản vay theo khế ước số 6600000715867669 nợ gốc là 10.000.000 đ, nợ lãi là 1.869.175 đ).
5
Buộc ông Hồ Văn B có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C số số tiền 35.200.814 đ (Ba mươi lăm triệu hai trăm ngàn tám trăm mười bốn đồng). (Trong đó nợ gốc 30.000.000 đ, nợ lãi là 5.200.814 đ). (Bao gồm khoản vay theo khế ước số 6600000712244215 số tiền nợ gốc là 20.000.000 đ, số tiền nợ lãi là 3.331.639 đ, khoản vay theo khế ước số 6600000715867669 nợ gốc là 10.000.000 đ, nợ lãi là 1.869.175 đ).
Ngoài ra kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Phạm Thị Đ và ông Hồ Văn B còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà Phạm Thị Đ và ông Hồ Văn B phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
4. Về án phí:
Bà Phạm Thị Đ được miễn án phí. Ông Hồ Văn B phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ trả nợ 1.760.000 đ (Một triệu bảy trăm sáu mươi ngàn đồng).
5. Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ tại địa phương nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thị Mỹ Trúc |
6
- Lưu hồ sơ vụ án, VP.
7
Bản án số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG về ly hôn
- Số bản án: 75/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
