Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HSST

Ngày 30/5/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

*Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Hà.

*Các Hội thẩm nhân dân: - 1. Ông Nguyễn Tất Bẩy.

-2. Ông Ngô Đức Thủy, Giáo viên trường TH xã Phong Vân.

* Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ca - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2024/HSST ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Duy T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 15/6/2006 (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 6 tháng 01 ngày) tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 10/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Lê Duy T1, đã chết; Mẹ đẻ: Đinh Thị N, sinh năm 1985; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ 28/01/2024 đến nay. Hiện đang tại ngoại ở nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa

Người đại diện hợp pháp của bị cáo:

Bà Đinh Thị N, sinh năm 1985 (là mẹ của bị cáo). Có mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Thân Văn L - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. Có mặt.

- Bị hại: Ngô Xuân C, sinh ngày 27/5/2006; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Ngô Xuân K, sinh năm 1979 (là bố của bị hại). Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. 1. Ngô Xuân K, sinh năm 1979; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

    Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

  2. 2. Hoàng Văn T2, sinh năm 2002; Vắng mặt.

    Địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

  3. 3. Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1989; Vắng mặt.

    Địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

  4. 4. Lý Đại N1, sinh ngày 23/8/2007; Vắng mặt.

    Người đại diện: Lý Văn Ú, sinh năm 1994 (là cậu ruột của N1); Vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

  5. 5, Lý Tuấn N2, sinh ngày 20/3/2007; Vắng mặt.

    Người đại diện: Lý Văn P, sinh năm 1984; Vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  6. 6. Nguyễn Trọng T4, sinh ngày 06/02/2007; Vắng mặt.

    Người đại diện: Nguyễn Văn L1, sinh năm 1980; Vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  7. 7. Trương Văn T5, sinh năm 2001; Vắng mặt.

    Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

  8. 8. Vũ Đình H, sinh năm 2001. Vắng mặt.

    Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  9. 9. Trần Quốc H1, sinh ngày 12/7/2006.

    Người đại diện: Trần Công L2, sinh năm 1971 (là bố đẻ của H1). Vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người làm chứng:

  1. 1. Lý Tuấn N2, sinh ngày 20/3/2007; Vắng mặt.

    Người đại diện: Lý Văn P, sinh năm 1984; Vắng mặt.

    Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  2. 2. Nguyễn Trọng T4, sinh ngày 06/02/2007; Vắng mặt.

    Người đại diện: Nguyễn Văn L1, sinh năm 1980; Vắng mặt.

    Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  3. 3. Vũ Đình H, sinh năm 2000 Vắng mặt.

    Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  4. 4. Trần Quốc H1, sinh ngày 12/7/2006; Vắng mặt.

    Người đại diện: Trần Công L2, sinh năm 1971. Vắng mặt.

    Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người tham gia tố tụng khác:

Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang do ông Trương Văn N3 - Bí thư đoàn đại diện. Vắng mặt, có đơn xin XX vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 15/12/2023, Lê Duy T, sinh ngày 15/6/2006, trú tại thôn T, xã N, huyện L cùng Ngọ Văn H2, sinh ngày 19/12/2006; Ngô Minh H3, sinh năm 2005; Ngô Xuân C, sinh ngày 27/5/2006, cùng trú tại thôn N, xã N, huyện L và L, sinh ngày 23/8/2007, trú tại thôn B, xã N, huyện L cùng chơi bị a tại thôn B, xã N. Đến rạng sáng ngày 16/12/2023, T, H2, H3, C, N1 cùng về nhà C ở thôn N, xã N chơi. T mượn điện thoại di động của H3 nói để nghịch, sau đó T tải app Sunwin trên trang web Sun20.win về điện thoại của H3, sau đó đăng nhập bằng tài khoản của T để đánh bạc bằng hình thức chơi tài xỉu. H3 đi ngủ, những người còn lại vẫn xem điện thoại. Chơi tài xỉu được một lúc thì T bị thua hết tiền nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy điện nhãn hiệu BEFORE ALL, loại xe Xmen Captains, màu sơn đen- đỏ, biển số MĐ2-060.92 đang để ở sân nhà của C để mang đi cầm cố hoặc bán lấy tiền chơi tài xỉu tiếp (chiếc xe trên đăng ký chủ sở hữu là ông Ngô Xuân K, sinh năm 1979 là bố đẻ của C). Khoảng 04 giờ ngày 16/12/2023, H3 dậy đi làm. CH2 đang ngủ, N1 vẫn đang thức xem điện thoại, T đi tìm chìa khóa xe máy điện của C để mở, lấy trộm xe, thì thấy chìa khóa xe máy điện để ở góc bàn thờ nhà C, sau đó T lại nằm xem điện thoại tiếp. Khoảng 05 giờ cùng ngày, thấy N1 vẫn chưa ngủ nên T đã bảo N1 chở T đi có việc (mục đích là lấy trộm xe). T lấy chìa khóa cắm vào ổ khóa xe máy điện của C đang dựng ở sân, rồi bảo N1 chở T đến nhà trọ ở tổ dân phố Q, thị trấn C, huyện L (trước đây là quán cà phê Phố N4) của anh Hoàng Văn T2, sinh năm 2002, trú tại thôn P, xã K, huyện L. Khi đến nơi, T đi vào nhà gặp T2, N1 đứng ở ngoài cửa, T bảo T2 cho vay 2.000.000đ, T để xe máy điện ở quán để làm tin, vài ngày thì lấy, T nói là xe của T. Triển đồng ý. T2 bảo T viết giấy vay tiền, T viết giấy “Biên bản cho vay” đề ngày 16/12/2023 với nội dung T vay của anh T2 2.000.000đ và để lại xe làm tin, sau đó đưa giấy vay tiền cho T2 giữ. T2 bảo T cung cấp số tài khoản để T2 chuyển tiền cho T. Do T không có số tài khoản nên ra gặp N1 để mượn điện thoại nhận chuyển tiền. Sau đó T mang điện thoại của N1 vào trong nhà T2, mở mã QR do Ngàn lưu sẵn trong điện thoại ra để cho T2 chuyển 1.800.000đ vào mã QR này, số tài khoản của mã QR này là 1013881737 mở tại Ngân hàng V, chủ tài khoản là Trương Văn T5, sinh năm 2001, trú tại thôn B, xã N, huyện L (do trước đó N1 mượn tài khoản của T5 để sử dụng), còn 200.000đ, T2 đưa cho T bằng tiền mặt. Sau khi T2 chuyển tiền xong, T bảo N1 mang xe vào nhà cho T2. Ngàn hỏi T sao lại để xe lại thì T nói T cắm một hai ngày rồi trả. Sau đó TN1 đi ăn sáng, T mượn điện thoại của N1, tự tải app Sunwin, dùng tài khoản Ngân hàng trong điện thoại của N1 nạp 1.800.000đ do T2 vừa chuyển cho vào để chơi tài xỉu trên app Sunwin. Chơi được một lúc bị thua hết số tiền trên, T trả điện thoại cho N1. Sau đó TN1 đến quán Q ở tổ dân phố L, thị trấn C, T vào quán chơi, N1 đi về trước. Sáng ngày 16/12/2023, anh C ngủ dậy thì phát hiện bị mất xe nên đã gọi hỏi N1 thì được N1 nói cho biết T đã cắm xe của anh C ở một quán. Sau đó, C hỏi nhắn tin hỏi xe, thì T có nhắn tin cho anh C thừa nhận lấy xe, hứa sẽ mang trả. Ngày 17/01/2024, T2 đòi tiền T, do hết tiền nên T lại nảy sinh ý định bán xe của anh C lấy tiền trả cho T2. Sau đó do không có số điện thoại của triển T2 nên T gọi điện cho Vũ Đình H, sinh năm 2000, trú tại thôn Đ, xã M, huyện L là người làm cùng quán cà phê với T2 nói về việc T sẽ qua quán lấy xe đạp điện mang đi bán lấy tiền trả cho anh T2. H đồng ý và gọi điện cho Lý Tuấn N2, sinh ngày 20/3/2007, trú tại thôn C, xã K bảo Năng việc T sẽ qua quán của T2 lấy xe, bảo N2 mang xe đi hộ T. Sau đó T gọi điện nhờ bạn là Trần Quốc H1, sinh ngày 12/7/2006, trú tại thôn K, xã H, huyện L chở T đi có việc. Sau đó T một mình đến nhà trọ của T2 trước. Khi đến nơi, T gặp Lý Tuấn N2 đang dọn dẹp nhà cho T2 ở đây, T nhờ N2 đi hộ xe máy điện để T bán. N2 đồng ý và rủ bạn là Nguyễn Trọng T4, sinh ngày 06/02/2007, trú tại thôn C, xã K, huyện L cũng đang ở đây đi cùng. Khi vừa đi ra khỏi nhà trọ của T2 thì T gặp H1 đi xe đến đây, sau đó cả 4 người đi xe máy điện đến quán T8 đến quán T8 do anh Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1989, trú tại tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L làm chủ. Khi đến quán, một mình T mang xe máy điện vào quán gặp anh T3 bảo xe máy điện của T muốn bán, xe đã mất đăng ký. Anh T3 đồng ý mua với giá 3.000.000đ nhưng viết vào tờ giấy mẫu “Hoá đơn bán hàng” là 4.000.000đ, lý do anh T3 trình bày phải sửa chữa, thay thế những vị trí, đồ hỏng, viết như vậy để khi bố mẹ T đến chuộc thì sẽ dễ giao dịch hơn. Sau đó T ghi “đã nhận đủ tiền” và ký tên mình vào giấy “Hoá đơn bán hàng”, đưa cho anh Tân giữ. Anh T3 đưa cho T 2.500.000đ tiền mặt và chuyển khoản cho T 500.000đ vào số tài khoản của H1, số tài khoản 107877853259 mở tại Ngân hàng V. Sau khi nhận 3.000.0000đ, T đưa cho N2 2.000.000đ để N2 trả cho anh T2 và còn 500.000đ tiền mặt và 500.000đ chuyển khoản vào tài khoản Ngân hàng của Huy T6 đã lấy lại và chi tiêu cá nhân hết, không chia cho ai và không cùng ai sử dụng.

Ngày 17/01/2024, anh Nguyễn Ngọc T3 đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu BEFORE ALL, loại xe Xmen Captains, màu sơn đen- đỏ, biển số MĐ2-060.92; 01 hoá đơn bán hàng đề ngày 17/01/2024 có chữ ký, chữ viết của Lê Duy T. Ngày 21/01/2024, Hoàng Văn T2 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 “Biên bản cho vay” đề ngày 16/12/2023 có chữ ký, chữ viết của Lê Duy T.

Ngày 18/01/2024, Cơ quan điều tra ra Yêu cầu định giá tài sản là chiếc xe máy điện bị trộm cắp. Tại Kết luận định giá tài sản số 11 ngày 22/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu BEFORE ALL, số loại XMEN CAPTAINS trị giá 2.200.000đ.

Ngày 26/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trong 01 “Biên bản cho vay” đề ngày 16/12/2023 và “Hoá đơn bán hàng” đề ngày 17/01/2024. Tại Kết luận giám định số 672 ngày 28/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung “Đã nhận đủ tiền - T – Lê Duy T” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) và chữ ký, chữ viết ở mặt trước tài liệu cần giám định (ký hiệu A2) so với chữ ký, chữ viết của Lê Duy T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1, M2, M3) là do cùng một người ký, viết ra.

T khai mượn điện thoại di động của N1H để đánh bạc bằng hình thức chơi tài xỉu trên app Sunwin trên trang web Sun20.win; mỗi lần chơi T đều lập một tài khoản mới để chơi, chơi xong T đều xoá tài khoản, không nhớ tài khoản, mật khẩu là gì; điện thoại di động của N1H khai đã bị hỏng và bán nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ hành vi đánh bạc của T. Điện thoại di động của T dùng gọi cho anh HH1, T khai điện thoại đã hỏng, vứt đi nay không tìm lại được, nên Cơ quan điều tra không tiến hành thu giữ được.

Tại bản cáo trạng số: 69/CT- VKS - LNg ngày 16 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Lê Duy T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với bị cáo và đề xuất ý kiến xử phạt bị cáo như sau:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 65; Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Duy T từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo về UBND xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

* Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách:

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo chưa đủ 18 tuổi, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong nên không đặt ra xem xét.

* Án phí: Áp dụng Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận đúng hành vi như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo không có ý kiến gì về kết luận định giá và thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng hành vi bị cáo đã thực hiện.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Về phần hình phạt, do khi phạm tội và xét xử bị cáo chưa đủ 18 tuổi, giá trị tài sản vừa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự nên đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo từ 03 đến 06 tháng cải tạo không giam giữ, hoặc áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 03 đến 06 tháng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Tuy khi phạm tội và xét xử bị cáo chưa đủ 18 tuổi, giá trị tài sản vừa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Nhưng căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Ngay sau khi phát hiện bị cáo là người trộm cắp xe, bị hại đã nhắn bị cáo chuộc xe về cho bị hại, nhưng sau khi chuộc lại xe bị cáo tiếp tục mang xe của bị hại đi bán mà không trả lại cho bị hại. Chứng tỏ bị cáo rất ngoan cố và quyết tâm thục hiện hành vi phạm tội đến cùng. Nên mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đưa ra là phù hợp.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy bị hại đã có đơn xin xét xử vắng mặt, trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của họ và sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ căn cứ khẳng định khoảng 05 giờ ngày 16/12/2023, tại gia đình anh Ngô Xuân K ở thôn N, xã N, huyện L, Lê Duy T có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu BEFORE ALL, số loại XMEN CAPTAINS trị giá ở vào thời điểm chiếm đoạt là 2.200.000đ, do anh K mua cho con trai là Ngô Xuân C sử dụng đi học. Sau khi trộm cắp được xe, T mang cầm cố cho anh Hoàng Văn T2 vay 2.000.000đ, sau đó bán cho anh Nguyễn Ngọc T3 với giá 3.000.000đ. Số tiền có được T dùng chơi tải xỉu và chi tiêu cá nhân hết.

Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự trị an ở địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho người dân trong quản lý tài sản nên phải lên một bản án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, thấy rằng bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng 65; Điều 91; 98; 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo, Nhưng do bị cáo ngoan cố, quyết tâm thực hiện hành vi phạm tội đến cùng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị mới đảm bảo tính răng đe giáo dục, phòng ngừa chung và đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nên ý kiến của người bào chữa không được chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Đối với hành vi của Lý Đại N1: Ngàn được T nhờ dùng xe máy điện của anh C đi đến quán của anh T2 để cầm cố vay 2.000.000đ. Ngàn không biết ý thức chủ quan của T là trộm cắp chiếc xe trên mang đi cầm cố. Sau khi T cầm cố cho anh T2 lấy 2.000.000đ, khi đó N1 mới biết T cầm cố xe của anh C, ngay sau đó được anh C gọi điện hỏi về chiếc xe thì N1 đã nói ngay cho anh C biết là T cầm cố xe của anh C. Còn số tiền 2.000.000đ cầm cố xe mà có T dùng vào việc đánh tài xỉu và chi tiêu cá nhân hết, T có trả tiền ăn sáng cho N1 nhưng là tiền cá nhân của T, không phải do tiền phạm tội mà có. Do vậy hành vi của N1 chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với N1 là có căn cứ.

Đối với Hoàng Văn T2 và anh Nguyễn Ngọc T3 khi nhận cầm cố và nhận mua xe máy điện của T, không biết đó là tài sản do T trộm cắp mà có, hành vi của anh T2, anh T3 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Lý Tuấn N2Nguyễn Ngọc T7 được T nhờ đi hộ xe đến quán anh T3 để bán, Trần Quốc H1 được T nhờ chở đi bán xe máy điện, H được T hỏi mang xe đi bán nhưng N2, T7, H, H1 đều không biết đây là xe do T trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Anh Ngô Xuân C, ông Ngô Xuân K đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Ngày 25/3/2024, bà Đinh Thị N, sinh năm 1985, trú tại thôn T, xã N, huyện L là mẹ đẻ của Lê Duy T đã bồi thường cho anh T3 số tiền 2.000.000đ, anh T3 đã nhận đủ và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng: Ngày 21/02/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Cùng ngày ông Ngô Xuân K đã nhận lại tài sản. Nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết

[9] Về án phí: Căn cứ Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các Điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo; Người bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. 1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt bị cáo Lê Duy T 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo về UBND xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    * Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách:

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. 2. Về án phí: Áp dụng Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

    Bị cáo Lê Duy T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  3. 3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Cơ quan CSĐT, Công an huyện Lục Ngạn;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Trại tạm Công an T. Bắc Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, người liên quan;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lương Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HSST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 75/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 05 giờ ngày 16/12/2023, tại gia đình anh Ngô Xuân K ở thôn N, xã N, huyện L, Lê Duy T có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu BEFORE ALL, số loại XMEN CAPTAINS trị giá ở vào thời điểm chiếm đoạt là 2.200.000đ, do anh K mua cho con trai là Ngô Xuân C sử dụng đi học. Sau khi trộm cắp được xe, T mang cầm cố cho anh Hoàng Văn T2 vay 2.000.000đ, sau đó bán cho anh Nguyễn Ngọc T3 với giá 3.000.000đ. Số tiền có được T dùng chơi tải xỉu và chi tiêu cá nhân hết
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger