Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẢI HẬU

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HS-ST

Ngày: 29 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Văn Đê.

Ông Đỗ Việt Hùng.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Dung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Lại Minh Khôi - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988 tại xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1957 (đã chết ngày 28/7/2024) và bà Vũ Thị H, sinh năm 1958; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là thứ ba; có vợ là Nguyễn Thị H1, sinh năm 1985 (đã ly hôn), chưa có con; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 26/11/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/6/2009. Ngày 22/8/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2018.

Bị tạm giữ, tạm giam từ 16/6/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt.

2. Vũ Viết T (tên gọi khác Vũ Văn T1, Vũ Hoàn T2), sinh năm 1976 tại thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Tổ dân phố số E, thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện tại: Xóm I, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; Đoàn, Đảng: Không; con ông Vũ Ngọc T3, sinh năm 1954 và con bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1956; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là thứ nhất; có vợ là Trần Thị N, sinh năm 1984 và có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 08/4/2015 bị Công an huyện H, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Sản xuất, buôn bán hàng giả”. Ngày 08/11/2016 bị Công an huyện H, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Kinh doanh không đúng ngành nghề địa điểm ghi trong giấy chứng nhận kinh doanh”, đã nộp xong tiền phạt ngày 11/11/2016.

Bị tạm giữ từ ngày 17/6/2024 đến ngày 25/6/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

- Bị hại: Anh Ngô Văn Đ2, sinh năm 1995; địa chỉ: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 16/6/2024, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe đạp nhãn hiệu Việt Long màu xanh trắng đen từ nhà ở xóm P, xã H, huyện H theo đường Q đến khu vực xóm P, xã H, huyện H thì phát hiện nhà anh Ngô Văn Đ2 cửa mở, không có người trông coi nên Đ2 dựng xe ở sân rồi đi vào phòng bếp thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 vỏ màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax đang để ở trên mặt bàn. Đ2 lấy 02 chiếc điện thoại bỏ vào túi quần bên phải rồi đạp xe đi về nhà. Sau đó, Đ2 mang 02 chiếc điện thoại di động trên đến cửa hàng sửa chữa, mua bán điện thoại “Hoàn Thiện” của Vũ Viết T ở xóm I, xã H huyện H để bán. Tại đây, khi gặp T, Đ2 đặt 02 chiếc điện thoại lên mặt bàn và nói “Anh ơi anh mua máy em bán cho”. T nghi ngờ 02 chiếc điện thoại do trộm cắp nên hỏi lại nguồn gốc, Đ2 trả lời “Em vừa vớ được ngoài đồng, anh trả bao nhiêu thì trả”. Lúc này, T kiểm tra và thấy 02 chiếc điện thoại đều khóa mật khẩu màn hình, không bị vỡ, không có bùn đất hay bụi bẩn nên nghi ngờ do Đ2 phạm tội mà có nhưng do hám lợi nên T đồng ý mua với giá 800.000 đồng. Nguyễn Văn Đ nói “sao rẻ thế”, T sợ Đ không bán nữa nên trả thêm cho Đ 50.000 đồng, Đại đồng ý. Sau đó, T tháo 02 sim điện thoại đưa cho Đ và trả số tiền 850.000 đồng. Sau khi nhận tiền thì Đ đi về nhà, trên đường đi đã ném 02 sim điện thoại tại khu vực đường Q thuộc xóm I, xã H.

Đến khoảng 16 giờ 50 phút cùng ngày, anh Ngô Văn Đ2 đi về nhà phát hiện bị mất 02 chiếc điện thoại di động nên đã trình báo Công an xã H. Khoảng 22 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn Đ đến Công an xã H đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm, giao nộp số tiền 850.000 đồng. Ngày 17/6/2024, Vũ Viết T đến Công an huyện H đầu thú và tự nguyện giao nộp 02 chiếc điện thoại di động đã mua của Đ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 35/KL - KTHS ngày 20/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 chiếc điện thoại di động Iphone 13 vỏ màu trắng có giá trị 10.000.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax có giá trị 8.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 18.000.000 đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại 02 chiếc điện thoại cho anh Ngô Văn Đ2, sau khi nhận lại tài sản, anh Ngô Văn Đ2 không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự và yêu cầu xử lý các bị cáo theo quy định pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 73/CT-VKSHH ngày 13/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Vũ Viết T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”, Vũ Viết T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Văn Đại từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024. Áp dụng khoản 1 Điều 323; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt Vũ Viết T từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Về xử lý vật chứng; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; tuyên tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 850.000 đồng; trả cho bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 xe đạp nhãn hiệu Việt L.

Bị hại anh Ngô Văn Đ2 tại phiên toà có ý kiến xác nhận đã nhận lại 02 chiếc điện thoại di động bị chiếm đoạt, không yêu cầu các bị cáo bồi thường dân sự và yêu cầu xử lý các bị cáo theo quy định pháp luật.

Trong phần tranh luận: Kiểm sát viên, các bị cáo và bị hại không có ý kiến tranh luận với nhau. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều thừa nhận đã phạm tội, hứa sửa chữa lỗi lầm của bản thân và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 14 giờ ngày 16/6/2024, lợi dụng sơ hở của gia đình anh Ngô Văn Đ2 ở xóm P, xã H, huyện H không có người trông coi nên Nguyễn Văn Đ vào nhà lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại Iphone 13 vỏ màu trắng có giá trị 10.000.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax có giá trị 8.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản Nguyễn Văn Đ chiếm đoạt là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng). Vũ Viết T làm nghề sửa chữa, mua bán điện thoại mặc dù không bán bạc, hứa hẹn trước với Nguyễn Văn Đ nhưng T biết rõ 02 chiếc điện thoại di động do Nguyễn Văn Đ phạm tội mà có nhưng hám rẻ đã mua 02 chiếc điện thoại di động với giá 850.000 đồng. Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của Vũ Viết T đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Điều 323. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định:

“1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[3] Hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Văn Đ đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác; Vũ Viết T vì hám rẻ đã tiếp tay tiêu thụ tài sản cho đối tượng trộm cắp. Hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận thức được tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi của mình gây ra. Bị cáo Nguyễn Văn Đ đã từng hai lần bị kết án phạt tù phải đi chấp hành án phạt tù giảm về tội trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa lỗi lầm của bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm khắc các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn Đ có nhân thân xấu, đã từng hai lần bị kết án phạt tù về tội trộm cắp tài sản; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; sau khi phạm tội bị cáo đã tự giác ra đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vũ Viết T có hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính vào các năm 2015, 2016 nhưng đã chấp hành xong và đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự giác ra đầu thú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của từng bị cáo, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo. Xét bị cáo Nguyễn Văn Đ có nhân thân xấu, đã hai lần bị kết án phạt tù về tội trộm cắp tài sản nhưng vẫn không chịu sửa chữa tiến bộ thể hiện thái độ coi thường kỷ cương pháp luật nên cần tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội trong một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên toà. Xét bị cáo Vũ Viết T phạm tội lần đầu; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, có ý thức tự cải tạo và không gây ảnh hưởng xấu đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương. Do đó chỉ cần cho bị cáo được tự cải tạo dưới sự theo dõi, giám sát của chính quyền địa phương nơi cư trú theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 323 Bộ luật Hình sự, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét các bị cáo làm nghề tự do, kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[7] Về trách nhiệm dân sự: 02 chiếc điện thoại di động bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại anh Ngô Văn Đ2. Sau khi nhận lại tài sản, anh Ngô Văn Đ2 không có yêu cầu bồi thường dân sự đối với các bị cáo, không yêu cầu đối với 02 sim điện thoại bị mất nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn Đại s tiền 850.000 đồng và 01 xe đạp nhãn hiệu Việt L. Xét thấy, đối với số tiền 850.000 đồng là do Vũ Viết T trả cho Nguyễn Văn Đ khi mua tài sản trộm cắp, đã sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với chiếc xe đạp nhãn hiệu Việt L do Nguyễn Văn Đ sử dụng khi đi trộm cắp tài sản nhưng chiếc xe là phương tiện đi lại hàng ngày của gia đình bị cáo, giá trị không lớn nên cần trả lại cho bị cáo sử dụng theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Vũ Viết T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố hình sự năm 2015; điểm khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

[10] Quyền kháng cáo: Các bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Văn Đ.

Căn cứ khoản 1 Điều 323; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với Vũ Viết T (tên gọi khác Vũ Văn T1, Vũ Hoàn T2).

1.1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” và bị cáo Vũ Viết T (tên gọi khác Vũ Văn T1, Vũ Hoàn T2) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

1.2. Xử phạt Nguyễn Văn Đ 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 6 năm 2024.

1.3. Xử phạt Vũ Viết T 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày 29 tháng 8 năm 2024. (Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 17/6/2024 đến ngày 25/6/2024).

Giao bị cáo Vũ Viết T cho Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” áp dụng đối với Vũ Viết T theo lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số 48/LCCT-TA ngày 20/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 850.000 đồng (T4 trăm năm mươi nghìn đồng).

Trả cho bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 xe đạp nhãn hiệu Việt L.

Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng và Biên lai thu tiền số 0002226 cùng ghi ngày 28/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Buộc Nguyễn Văn Đ và Vũ Viết T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Các bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Hải Hậu;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Công an huyện Hải Hậu;
  • - UBND xã H;
  • - UBND thị trấn Y;
  • - Các bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Trung Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 75/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ và Vũ Viết T - Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger