Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦ THỪA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29-7-2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Hằng.
  2. Ông Nguyễn Văn Năm.

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hằng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 150/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 50/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hồng Kh, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp 3, xã A, huyện B, tỉnh Long An.
  2. Bị đơn: Ông Phan Thanh S, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp 3, xã A, huyện B, tỉnh Long An.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22/4/2024, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Hồng Kh trình bày:

Bà và ông Phan Thanh S do tự tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã TH, huyện BL, tỉnh Long An vào ngày 09/8/2006, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng hơn 01 năm trở lại đây vợ chồng bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, ông S thường xuyên nhậu nhẹt, đi làm về khuya, không quan tâm chăm sóc vợ con, ông S còn hay chửi bới nặng lời với bà và hay bỏ đi khoảng 10 ngày, nửa tháng mới về, bà cũng không biết ông S đi đâu làm gì. Bà Kh nhiều lần khuyên ông S bớt rượu chè, cùng nhau làm ăn để nuôi dạy, chăm sóc con và vun đắp tình cảm gia đình nhưng không ông S vẫn bỏ ngoài tai. Vì vậy, bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn với ông Phan Thanh S.

Về con chung: Vợ chồng bà có 01 con chung tên Phan Minh H, sinh ngày 23/3/2006, đã trưởng thành tự đi làm nuôi sống bản thân được, không bị hạn chế gì về thể chất lẫn tinh thần nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra không ý kiến gì thêm.

Bị đơn ông Phan Thanh S vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án không có lời trình bày.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tiến hành hòa giải được vì ông Phan Thanh S vắng mặt nên Tòa án quyết định đưa ra vụ án xét xử.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thanh Trúc – đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo pháp luật tố tụng và các đương sự trong vụ án đã chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Hồng Kh là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận cho bà Kh được ly hôn với ông Phan Thanh S. Về con chung: Vợ chồng bà Kh có 01 con chung tên Phan Minh H, sinh ngày 23/3/2006, đã trưởng thành tự đi làm nuôi sống bản thân được, không bị hạn chế gì về thể chất lẫn tinh thần nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Chứng cứ mà bà Trần Thị Hồng Kh cung cấp trong vụ án là: Bản chính giấy chứng nhận kết hôn; Bản sao căn cước công dân bà Kh; Bản sao giấy khai sinh; Xác nhận thông tin về nơi cư trú; Bản tự khai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:

    Bà Trần Thị Hồng Kh khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phan Thanh S. Ông S cư trú tại ấp 3, xã A, huyện B, tỉnh Long An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

    Tại phiên tòa, bà Trần Thị Hồng Kh vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại văn bản xác nhận thông tin về cư trú của Công an xã Tân Thành xác nhận ông Phan Thanh S có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp 3, xã A, huyện B, tỉnh Long An. Do đó, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của ông S, ông S đã được thông báo về việc Tòa án thụ lý vụ án, về phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, về thời gian xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Kh và ông S.

  2. Xét yêu cầu ly hôn của bà Kh, thấy rằng: Bà Kh và ông S xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2006, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã TH, huyện BL, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 09/8/2006 nên hôn nhân của bà Kh và ông S là hôn nhân hợp pháp. Theo bà Kh nguyên nhân mâu thuẫn là do ông S thường xuyên nhậu nhẹt, đi làm về khuya, không quan tâm chăm sóc vợ con, ông S còn hay chửi bới nặng lời với bà và hay bỏ đi khoảng 10 ngày, nửa tháng mới về, bà cũng không biết ông S đi đâu làm gì. Bà Kh nhiều lần khuyên ông S bớt rượu chè, cùng nhau làm ăn để nuôi dạy, chăm sóc con và vun đắp tình cảm gia đình nhưng không ông S vẫn bỏ ngoài tai. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với ông S, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Phan Thanh S. Về phía ông S, từ khi bà Kh nộp đơn khởi kiện đến nay mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết rõ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Kh nhưng ông S cũng không có ý kiến gì, liên tiếp vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án cho thấy ông S không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng và gìn giữ cuộc hôn nhân này. Căn cứ vào nguyên nhân mâu thuẫn mà bà Kh đã trình bày chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Kh và ông S đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Kh là phù hợp.

  3. Về con chung: Bà Kh trình bày vợ chồng bà có 01 con chung tên Phan Minh H, sinh ngày 23/3/2006, đã trưởng thành tự đi làm nuôi sống bản thân được, không bị hạn chế gì về thể chất lẫn tinh thần, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

  4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Kh trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông S vắng mặt không có lời trình bày nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  5. Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.

  6. Về án phí: Bà Trần Thị Hồng Kh phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Hồng Kh về việc "Ly hôn" với ông Phan Thanh S.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Hồng Kh được ly hôn với ông Phan Thanh S.

  2. Về án phí: Buộc bà Trần Thị Hồng Kh chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008417 ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, bà Trần Thị Hồng Kh đã nộp đủ án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, bà Trần Thị Hồng Kh và ông Phan Thanh S vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Thủ Thừa;
  • - Chi cục THADS huyện Thủ Thừa;
  • - UBND xã TH, huyện BL, tỉnh Long An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Nguyễn Đức Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 75/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị Hồng Kh yêu cầu ly hôn với ông Phan Thanh S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger