Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HNGĐ - ST

Ngày 29/7/2024

“V/v: Tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Như Ý

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vĩ

Ông Dương Văn Xuyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Ngọc Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa:

Ông Tạ Quốc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 175/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXX-ST ngày 02 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H. Sinh năm 1990

Nơi thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện S, thành phố Hà Nội.

Chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T. sinh năm 1987

Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện S, thành phố Hà Nội.

Có mặt: Chị H.

Vắng mặt: Anh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 08/3/2024 và các lời khai theo nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn ngày 15/10/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, thành phố Hà Nội, trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu.

Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại thôn T, xã Đ, huyện S, thành phố Hà Nội. Cuộc sống chung hạnh phúc đến khoảng năm 2019 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T thường xuyên vắng nhà, không chăm lo, quan tâm chăm sóc gì đến vợ con, không phụ giúp chị về kinh tế. Chị nói chuyện khuyên bảo nhưng anh T không nghe, vợ chồng thì xảy ra cãi vã, xô xát. Chị có nhờ gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Chị nhiều lần bị anh T đánh đập, chửi bới. Vợ chồng đã ly thân từ khoảng năm 2019. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn anh Nguyễn Văn T để ổn định cuộc sống riêng.

- Về con chung: Chị và anh T sinh được 03 con chung là Nguyễn Thị Ánh P, sinh ngày 27/7/2010, Nguyễn Phương L, sinh ngày 24/5/2014 và Nguyễn Huyền A, sinh ngày 22/02/2019. Hiện cả 03 con chung đều đang ở với chị.

Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả 03 con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu giải quyết.

Hiện chị đang làm tại Công ty TNHH Đ, địa chỉ: Số nhà A, tổ I, thị trấn S, huyện S, Hà Nội được chị thành lập ngày 13/5/2015. Thu nhập bình quân của chị khoảng 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng/tháng.

Kể từ khi ly thân từ năm 2021 đến nay, chị được bố mẹ là ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H1 phụ giúp chăm sóc con chung. Ly hôn, trường hợp chị được giao nuôi con, bố mẹ chị cam kết tiếp tục tạo điều kiện về chỗ ăn ở và giúp chị chăm sóc các con

- Về tài sản chung, tài sản riêng, nhà đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công nợ, công sức đóng góp: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Anh Nguyễn Văn T đã nhận tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác. Anh T vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc. Tòa án không làm việc trực tiếp được với anh T nên không ghi được ý kiến của anh T về các tranh chấp trong vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng: Kể từ ngày nhận đơn, thụ lý vụ án, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 147, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị HĐXX:

Về tình cảm: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H. Cho chị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Giao 03 con chung là: Nguyễn Thị Ánh P, sinh ngày 27/7/2010, Nguyễn Phương L, sinh ngày 24/5/2014 và Nguyễn Huyền A, sinh ngày 22/02/2019 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn T, đến khi con chung thành niên hoặc có quyết định khác của Tòa án.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, nhà đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công nợ, công sức đóng góp: Không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị H phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền: Bị đơn là anh Nguyễn Văn T đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn T, xã Đ, huyện S, thành phố Hà Nội. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về sự vắng mặt của anh Nguyễn Văn T tại phiên tòa: Anh Nguyễn Văn T đã nhận tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập của Tòa án nhưng vắng mặt thuộc trường hợp được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn T.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, thành phố Hà Nội và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 42 ngày 15/10/2009. Hôn nhân giữa chị H và anh T hợp pháp.

Sau khi kết hôn, chị H và anh T chung sống tại thôn T, xã Đ, huyện S, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống, anh chị hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, anh T không quan tâm, chăm sóc con, không phụ giúp chị H về kinh tế, thường có hành vi đánh đập, chửi bới chị H. Mặc dù chị H và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh T không thay đổi. Chị H và anh T đã ly thân từ khoảng năm 2019 đến nay.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H cho chị H được ly hôn anh T.

[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T có 03 con chung là Nguyễn Thị Ánh P, sinh ngày 27/7/2010, Nguyễn Phương L, sinh ngày 24/5/2014 và Nguyễn Huyền A, sinh ngày 22/02/2019.

Xét nguyện vọng nuôi con của chị Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả 03 con chung. Các cháu Phương L, Ánh P đều có nguyện vọng ở với mẹ. Cháu A còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ. Trên thực tế, chị H cũng là người đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả 03 con chung. Căn cứ vào điều kiện thực tế của chị H cũng như để đảm bảo sự phát triển tốt nhất cả về thể chất lẫn tinh thần cho các con, tránh những xáo trộn không cần thiết ảnh hưởng đến tâm lý trẻ. Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả 03 con chung là phù hợp.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Xét thấy, chị H không yêu cầu giải quyết. Nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị H, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn T đến khi con chung của anh chị thành niên hoặc có quyết định khác của Tòa án.

[2.3] Về tài sản chung, công sức đóng góp, công nợ: Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.4] Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng áp phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn theo Biên lai số 22389 ngày 12/3/2024.

[2.5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

  • - Các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
  • - Khoản 7 Điều 28; Điều 271, 273, 277 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  2. Về con chung: Chị H và anh T sinh được 03 con chung là: Nguyễn Thị Ánh P, sinh ngày 27/7/2010, Nguyễn Phương L, sinh ngày 24/5/2014 và Nguyễn Huyền A, sinh ngày 22/02/2019. Ly hôn, chị Nguyễn Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả 03 con chung, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Văn T đến khi con chung của anh chị thành niên hoặc có bản án, quyết định khác của Tòa án.

    Anh Nguyễn Văn T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được ngăn cản.

  3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nhà đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công nợ, công sức đóng góp: Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết của chị Nguyễn Thị H.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 22389 ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Sóc Sơn;
  • - THADS huyện Sóc Sơn;
  • - Ủy ban nhân dân xã Đức Hòa, huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
  • Giấy chứng nhận kết hôn số 42 ngày 15/10/2009;
  • - Lưu HS, VP

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Như Ý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HNGĐ - ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 75/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger