Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HSST

Ngày: 29-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

  • - Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Qui
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
  • 1. Bà Nguyễn Thị Hạnh
  • 2. Bà Nguyễn Thị Kim Huế
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2024/HSST ngày 25 tháng 03 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 04 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/HSST-QĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 03/2024/TB-TA ngày 20 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn P, tên gọi khác: không, sinh năm 1989 tại: Hà Nam; nơi thường trú: Tổ D, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng và nơi cư trú: số nhà B đường B, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: thợ xây; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1958 (đã chết) và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1958, nơi cư trú: số nhà B đường B, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1987 (đã ly hôn) con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2009.

- Tiền sự: không

- Tiền án: Ngày 12/3/2021, bị Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 24 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo Bản án số 22/2021/HSST ngày 12/03/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc. Chấp hành xong án phạt tù ngày 14/11/2023. Chưa được xoá án tích.

- Nhân thân: Ngày 10/8/2020 bị Ủy ban Nhân dân phường A, thành phố B áp dụng biện pháp “cai nghiện tại gia đình” thời gian 03 tháng về hành vi “Nghiện ma tuý trong thời gian cư trú” theo Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục xã, phường, T-UBND.

Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 29/10/2023 cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Chị Phan Thị H1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Số A Quốc lộ B, thôn B, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1988; Địa chỉ: Hẻm C đường C, phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
  • + Ông Trịnh Đình N, sinh năm 1990;
  • Nơi cư trú: Thôn F, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt)
  • + Ngân hàng Thương mại cổ phần Q
  • Địa chỉ: Số nhà A đường L, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.
  • Người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng: ông Lưu Trung T1, sinh năm 1975, chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị.
  • Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng: Bà Lê Thị H3, sinh năm 1985 và bà Nguyễn Thị Thanh M, sinh năm 1988; cùng địa chỉ: số nhà B đường T, Phường I, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn P là đối tượng đang có tiền án về tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức chưa được xoá án tích. Vào khoảng tháng 8/2023, Nguyễn Văn P đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của chị Phạm Thị H4, sinh năm 1985, nơi cư trú: thôn B, xã L, thành phố B, Lâm Đồng, cụ thể như sau:

Vào khoảng đầu tháng 8/2023 P cùng với một người bạn tên K (chưa rõ lai lịch) đến quán V của chị Phạm Thị H4 tại địa chỉ G T, L, Tp B để nhậu, đến khoảng 16 giờ cùng ngày, K đứng lên đi thanh toán tiền, khi quay lại bàn thì K có nói với P “có muốn có điện thoại xài không?”, P trả lời “sao mày hỏi tao vậy” thì K nói tiếp “ở phía sau đó”, lúc này P đã hiểu ý K là phía trong quán có chiếc điện thoại nên P đi vào bên trong quán để đi vệ sinh và quan sát chiếc điện thoại theo lời K nói, khi P đi ngang qua bếp thì thấy có 01 (một) chiếc điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu đen, đang được cắm sạc và đặt trên chiếc bàn phía bên trái theo hướng từ bên ngoài vào trong, tuy nhiên lúc này P không có ý định lấy trộm mà chỉ đi vệ sinh. Sau khi đi vệ sinh ra, P để ý chị H4 đang ở bên ngoài quán, bên trong quán không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại di động trên. Để thực hiện ý định, P vào bếp nhanh chóng rút dây sạc điện thoại rồi cầm lấy chiếc điện thoại cất vào trong túi quần bên phải đang mặc. Sau đó, anh P ra ngoài gặp K rồi đi về nhưng không nói cho K mình vừa lấy trộm chiếc điện thoại. Khi về phòng trọ của P ở số C, đường C, Phường A, thành phố B, P mở chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO vừa chiếm đoạt được của chị H4 ra kiểm tra thì thấy điện thoại không có mật khẩu khóa màn hình, P đã lấy sim điện thoại số 0911.097.xxx của chị H4 gắn vào chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh của P và lấy sim điện thoại số 0968.808.xxx của P gắn vào trong chiếc điện thoại di động OPPO vừa chiếm đoạt được của chị H4 và sử dụng cả hai chiếc điện thoại làm phương tiện liên lạc.

Đến khoảng 8 giờ 30 phút sáng ngày 15/8/2023, khi P đang ở phòng trọ tại số C, đường C, phường A, thành phố B, P thấy có 02 tin nhắn từ Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (M1) (sau đây gọi tắt là Ngân hàng M1) gửi đến số điện thoại 0911.097.xxx của chị H4 gắn trong chiếc điện thoại Nokia màu xanh nên mở tin nhắn ra đọc thì nội dung của 01 tin nhắn là mã kích hoạt tài khoản và 01 tin nhắn là tài khoản Ngân hàng M1 của chị H4 đã được nạp vào số tiền 80.132.000đ. Nguồn gốc của số tiền này là do vào khoảng 08 giờ ngày 15/08/2023 chị Phạm Thị H4 đến ngân hàng M1 chi nhánh B để lập tài khoản tại ngân hàng M1 với số điện thoại đăng ký là số điện thoại 0911.097.xxx của chị H4 đã mất trước đó cùng chiếc điện thoại OPPO với mục đích sau khi lập tài khoản xong sẽ đi đăng ký làm lại sim để nhận mã OTP. Sau khi được ngân hàng M1 Cấp số tài khoản 2130619616374 với số điện thoại đăng ký là 0911.097.xxx, chị H4 đã đưa cho nhân viên ngân hàng số tiền 80.132.000₫ gồm tiền gửi và phí gửi tiền để nhân viên nộp tiền vào tài khoản rồi đến cửa hàng V1 để làm lại sim số 0911.097.837. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, P liên lạc K và hỏi K cách rút tiền khi nhận được thông báo của Ngân hàng về số tiền có trong tài khoản. Lúc này K chỉ Phong cách tải ứng dụng của ngân hàng rồi dùng số điện thoại để đăng nhập, tuy nhiên P không kể cho K biết việc đã lấy trộm chiếc điện thoại của chị H4 trước đó cũng như việc Ngân hàng Q có nhắn tin vào sim điện thoại mà P đã chiếm đoạt được của chị H4 về việc tài khoản Ngân hàng được nạp số tiền 80.132.000₫

Sau đó, P về phòng trọ, sử dụng điện thoại OPPO đã chiếm đoạt được của chị H4 tải ứng dụng của Ngân hàng M1 rồi sử dụng số điện thoại 0911.097.xxx của chị H4 mà P đang sử dụng đăng nhập vào ứng dụng của Ngân hàng M1 rồi chọn quên mật khẩu và nhận mật khẩu tài khoản mới đến sim điện thoại số 0911.097.xxx, P nhập mật khẩu vừa nhận được vào ứng dụng và đăng nhập vào tài khoản Ngân hàng M1 của chị H4 thấy trong tài khoản của chị H4 có số tiền: 80.132.000₫ nên P đã chuyển 80.130.000đ vào tài khoản Ngân hàng M1 số 0968808933 mang tên Nguyễn Văn P của P. Sau đó, P đăng nhập vào tài khoản Ngân hàng M1 số 0968808933 của P thì thấy tài khoản của P đã nhận được số tiền 80.130.000đ. Do không có thẻ Ngân hàng để rút tiền, P đã chuyển số tiền 20.000.000đ vào tài khoản Ngân hàng M1 số 0967124052 mang tên Nguyễn Thị H2 của chị Nguyễn Thị H2 là bạn gái của P. Sau đó, P liên hệ với chị H2 nhờ rút tiền nhưng không nói tiền từ đâu mà có và chở chị H2 đi rút tiền giúp tại trụ ATM của Ngân hàng M1 thuộc Phường A, thành phố B, tại đây chị H2 đã rút số tiền 20.000.000 đồng đưa cho P. P trả cho chị H2 số tiền 5.000.000 đồng mà P đã nợ chị H2 trước đó và giữ lại 15.000.000 đồng, đến sáng ngày 16/8/2023, P đã đến cửa hàng C tại địa chỉ số F, đường P, Phường A, thành phố B để chuộc chiếc xe mô tô mà P đã cầm trước đó với số tiền là 9.300.000 đồng. Số tiền còn lại P đã tiêu xài cá nhân hết, còn chiếc xe mô tô vừa chuộc sau khi đi được một thời gian P cũng tiếp tục bán cho một người không rõ lai lịch ở huyện D.

Đến ngày 23/8/2023, P đến xã T, huyện D để làm việc. Tại đây, P đến gặp anh Trịnh Đình N để đổi lấy tiền mặt, anh N đồng ý, P đăng nhập tài khoản Ngân hàng M1 số 0968808933 của P và chuyển số tiền 60.000.000 đồng sang tài khoản Ngân hàng A1 của anh Trịnh Đình N để đổi lấy tiền mặt. Tuy nhiên, sau khi chuyển tiền cho anh N, tuy nhiên do anh N không đủ tiền mặt còn tài khoản ngân hàng của anh N không chuyển khoản lại cho tài khoản M1 của P được nên anh N và P đã nhờ chị Đặng Thị Kim T2, sinh năm: 1986, nơi cư trú thôn D, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng chuyển tiền giúp. Anh N sau đó đã chuyển 60.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng Sacombankcủa chị T2, sau đó chị T2 chuyển 60.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của bạn gái P là chị Nguyễn Thị H2. Sau đó P đi về gặp chị H2, nhờ chị H2 rút số tiền mặt này đưa cho mình và nói với chị H2 đây là tiền Phong mượn để làm ăn. Sau khi nhận số tiền mặt 60.000.000đồng từ chị H2, P đã tiêu xài cá nhân hết. Đối với chiếc điện thoại OPPO đã chiếm đoạt được của chị H4, P đã bán cho một cửa hàng điện thoại trên Quốc lộ B trên đường đi Tp . được số tiền 800.000 đồng, số tiền này P đã tiêu xài hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 100 ngày 24/09/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A93 màu đen, dung lượng 128GB có giá trị là 2.700.000 đồng.

Về vật chứng: Hiện Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đang thu giữ số tiền 5.000.000 đồng do chị H2 giao nộp, đối với chiếc điện thoại di động OPPO A93 của chị H4, hiện không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chiếm đoạt của bị hại 82.830.000đ nhưng bị hại chị Phạm Thị H4 yêu cầu Ngân hàng M1 và bị cáo Nguyễn Văn P trả lại số tiền 82.700.00.000₫ (tám mươi hai triệu bảy trăm nghìn đồng) (bao gồm số tiền 80.000.000 đồng và 2.700.000 đồng là giá trị chiếc điện thoại di động OPPO bị chiếm đoạt), trong đó Ngân hàng M1 có trách nhiệm bồi thường số tiền 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng)

Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKSBL ngày 23 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố Nguyễn Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn P thừa nhận toàn bộ nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thừa nhận bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của chị H4 với hành vi cụ thể như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì nội dung của bản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 đến 04 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) do chị H2 giao nộp, đây là tiền của bị cáo P chiếm đoạt của chị H4 nên trả cho chị H4.

Về trách nhiệm bồi thường: Đối với yêu cầu của chị H4 buộc Ngân hàng M1 bồi thường số tiền 60.000.000đ là không có cơ sở vì quá trình điều tra Ngân hàng M1 đúng các quy định về việc lập mở, sử dụng tài khoản theo thông tư 24/2014 ngày 19/8/2014 và thông tư 32/2016 ngày 26/12/2016 của Ngân hàng N2 cần buộc bị cáo P bồi thường cho chị H4 số tiền 77.700.000đ (bảy mươi bảy triệu bảy trăm nghìn đồng).

Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát.

Bị hại không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố B; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến thắc mắc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử thấy rằng, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng qui định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án: Vào đầu tháng 8/2023 tại địa bàn phường L, thành phố B, Lâm Đồng, P thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc điện thoại di động Oppo A93 trị giá 2.700.000 đồng, sau khi lấy được điện thoại, P đăng nhập vào tài khoản ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) mang tên chị Phạm Thị H4 chiếm đoạt số tiền 80.130.000 đồng của chị H4. Tổng giá trị tài sản P chiếm đoạt của chị H4 là 82.830.000 đồng là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm trái pháp luật đến quyền sở hữu tài sản của người khác, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Đối chiếu lời khai của bị cáo; lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự, có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội danh và điều luật như Cáo trạng là có căn cứ và đúng pháp luật

[3] Xét tính chất hành vi do bị cáo P thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường kỷ cương pháp luật, hành vi trên không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương; nên cần thiết phải áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đang có tiền án chưa được xóa án tích và thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trên 2.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo la phù hợp.

[4]Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) do chị H2 giao nộp, đây là tiền của bị cáo P chiếm đoạt của chị H4 nên trả cho chị H4.

[5] Về trách nhiệm bồi thường:

Đối với số tiền 80.000.000₫ bị cáo chiếm đoạt qua tài khoản Ngân hàng M1 của chị H4, chị H4 yêu cầu bị cáo và Ngân hàng M1 cùng có trách nhiệm bồi thường, xét thấy Ngân hàng M1 đã thực hiện đúng các quy định về việc lập mở, sử dụng tài khoản theo thông tư 24/2014 ngày 19/8/2014 và thông tư 32/2016 ngày 26/12/2016 của Ngân hàng N2, việc đưa thông tin số điện thoại để mở tài khoản là do chị H4 cung cấp, sau khi phát hiện số tiền trong tài khoản chị H4 chuyển sang tài khoản của bị cáo P, Ngân hàng M1 và chị H4 đã lập biên bản về việc phong tỏa tài khoản của bị cáo P trong thời hạn 07 ngày, hết thời hạn Ngân hàng M1 không nhận được văn bản phong tỏa tài khoản bị cáo P, quá trình mở tài khoản Ngân hàng M1 đã làm đúng trình tự thủ tục nên chị H4 yêu cầu Ngân hàng M1 cùng có trách nhiệm bồi thường là không có cơ sở. Số tiền 5.000.000đ chị H2 đã nộp lại nên cần buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho chị H4 số tiền 75.000.000₫ (bảy mươi lăm triệu đồng).

Đối với chiếc điện thoại di động OPPO A93 của chị H4, hiện không thu hồi được, trị giá 2.700.000đ (hai triệu bảy trăm nghìn đồng), cần buộc bị cáo phải bồi thường cho chị H4. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho chị H4 là 77.700.000₫ (bảy mươi bảy triệu bảy trăm nghìn đồng)

[6] Đối với người tên K, hiện chưa xác định được lai lịch, chưa triệu tập làm việc được. Tuy nhiên qua điều tra xác minh, K không biết việc P trộm cắp chiếc điện thoại và chiếm đoạt số tiền trong tài khoản ngân hàng của chị H4. Do đó Cơ quan CSĐT Công an thành phố B không truy cứu trách nhiệm hình sự của K là có căn cứ và đúng pháp luật.

Đối với Nguyễn Thị H2: là người đi rút tiền đưa cho P 02 lần, tuy nhiên khi P chuyển tiền nhờ chị H2 rút, chị H2 không biết đây là tiền do bị cáo P phạm tội mà có. Do đó Cơ quan CSĐT Công an thành phố B không truy cứu trách nhiệm hình sự của chị H2 là có căn cứ và đúng pháp luật.

Đối với anh Trịnh Đình N và chị Đặng Thị Kim T2: Khi nhận tiền chuyển khoản từ P, anh N và chị T2 không biết đây là tiền do bị cáo P phạm tội mà có. Do đó Cơ quan CSĐT Công an thành phố B không truy cứu trách nhiệm hình sự của anh Trần Đình N1 và chị Đặng Thị Kim T2 là có căn cứ và đúng pháp luật.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2023.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
  4. Trả cho chị Phạm Thị H4 số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng)

    (Theo Ủy nhiệm chi ngày 23/01/2024)

  5. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự
  6. Buộc bị cáo Nguyễn Văn P có trách nhiệm bồi thường cho chị Phạm Thị H4 số tiền 77.700.000đ (bảy mươi bảy triệu bảy trăm nghìn đồng)

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.

  7. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí tòa án.
  8. Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.885.000đ (ba triệu tám trăm tám mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS tỉnh Lâm Đồng;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKS nhân dân thành phố Bảo Lộc;
  • - Công an thành phố Bảo Lộc;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục T.H.A thành phố Bảo Lộc;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Qui

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HSST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 75/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Van P trom cap tai san
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger