|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. H THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2024/HS-ST
Ngày: 29.5.2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H - TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Tùng
2. Ông Trần Hải
Thư ký Toà án: Bà Trần Thị Tuyết Nhung - Cán bộ Toà án nhân dân quận H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Nguyên Lương - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận H, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/HSST ngày 26 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2024/HSST-QĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Thông báo về việc tạm ngưng phiên tòa số: 02/2024/TB-TNPT ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Xuân Ng.
Tên gọi khác: K. Sinh ngày: 04.01.1989 tại thành phố Đà Nẵng. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: đường H, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng. Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Con ông Bùi Văn D (sinh năm 1965) và bà Phan Thị Th (sinh năm 1967). Gia đình có 03 anh, chị, em. Bị cáo là con đầu. Vợ: Lê Đỗ Trâm A (Sinh năm 1991). Có 01 con sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: - Ngày 07.01.2008 bị UBND thành phố Đà Nẵng ban hành Quyết định số 119/QĐ-UBND về việc tập trung vào Trung tâm giáo dục Dạy nghề 05-06 thành phố Đà Nẵng, thời gian 12 tháng kể từ ngày 28.12.2007, hòa nhập cộng đồng kể từ ngày 15.12.2008 theo Giấy chứng nhận số: 153/GCN-05.06 ngày 15.12.2008 của Trung tâm giáo dục Dạy nghề 05-06.
- Bản án số 78/2012/HSST ngày 25/7/2012 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Đà Nẵng áp dụng khoản 3 Điều 104 BLHS 1999 xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Đã chấp hành xong hình phạt tù và các Quyết định khác của bản án. Đương nhiên được xóa án tích theo Điều 70 Bộ luật hình sự.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 05 phút ngày 06/7/2022, Tổ công tác 911 Công an thành phố Đà Nẵng đang trực chốt tại đường K, phường H II, quận H, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện Bùi Xuân Ng điều khiển xe mô tô hiệu Vario màu trắng bạc biển số 43C1-95297 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành dừng xe để kiểm tra. Kết quả phát hiện trong điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, số Imei: 353073099337305, gắn sim số: 0901164350 của Ng đang sử dụng có nhiều hình ảnh, nội dung tin nhắn (điện thoại, zalo) liên quan đến việc tổ chức đánh bạc bằng hình thức ghi số đề nên Công an phường H II đã tiến hành sao lưu nội dung những tin nhắn này ra 22 tờ giấy A4 (có chữ ký của Ng, được lưu theo hồ sơ vụ án).
Vật chứng thu giữ: 01 ĐTDĐ Iphone 7 màu đen, số Imei: 353073099337305, gắn sim số: 0901164350; 01 ĐTDĐ Iphone 7 màu đen, số Imei: 355313086463674, gắn sim số: 0935431143; 01 xe mô tô hiệu Vario màu trắng bạc biển số 43C1-95297, số khung: MH1KF4115, số máy: KK453716.
Kết quả điều tra xác định: Khoảng cuối tháng 5/2022, Tuấn (không rõ lai lịch, địa chỉ) rủ Ng làm trung gian thư ký ghi đề và trả công mỗi tuần từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng thì Ng đồng ý. Tuấn đưa 01 điện thoại di động Iphone 7 màu đen gắn sim số 0901164350 cho Ng để sử dụng nhận tin nhắn ghi đề từ những người đã kết bạn sẵn trong ứng dụng zalo của máy là: “Chi Bé Thanh”, “tuyền”, “Phan Hương”, “Thảo Trịnh”, “Phương” và một người tên “Chị Quyên 2” (có số điện thoại 0938.637.xxx). Hằng ngày nếu những người này nhắn tin ghi đề thì Ng nhắn tin xác nhận bằng số “1”, “2”... theo thứ tự tin nhắn, trước khi có kết quả mở thưởng Ng tính tổng số tiền ghi đề rồi chuyển lại bằng tin nhắn zalo cho Tuấn. Sau đó, Tuấn tự tính toán thắng thua, tự đi thu tiền hoặc trả tiền cho khách trúng đề. Ng không biết tỷ lệ thắng thua và không biết cách tính thắng thua. Sau mỗi ngày nhận và chuyển số đề thì Ng xóa hết những nội dung tin nhắn này nên không thu giữ được. Ng đã làm thư ký ghi đề cho Tuấn từ khoảng đầu tháng 6/2022 đến ngày 06/7/2022, Ng được Tuấn trả công số tiền 4.000.000 đồng.
Trong ngày 06/7/2022, Ng nhận tin nhắn ghi số đề từ 06 người rồi chuyển lại cho Tuấn, cụ thể:
- Tin nhắn SMS từ số điện thoại 0938.637.xxx của “Chị Quyên 2” với tổng số tiền ghi đề là 1.970.000 đồng.
- Tin nhắn từ tài khoản zalo “Thảo Trịnh” với tổng số tiền ghi đề là 9.260.000 đồng.
- Tin nhắn từ tài khoản zalo “Phương” với tổng số tiền ghi đề là 19.480.000 đồng.
- Tin nhắn từ tài khoản zalo “Phan Hương” với tổng số tiền ghi đề là 17.680.000 đồng.
- Tin nhắn từ tài khoản zalo “tuyền” với tổng số tiền ghi đề là 34.360.000 đồng.
- Tin nhắn từ tài khoản zalo “Chi Bé Thanh” với tổng số tiền ghi đề là 12.161.000 đồng.
Như vậy, trong ngày 06/7/2022, sau khi có kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết (thời điểm kiểm tra hành chính), Ng đã nhận ghi số đề từ 06 người qua tin nhắn với tổng số tiền ghi đề là 94.911.000đồng. Do Ng không biết tỷ lệ thắng thua và không biết cách tính thắng thua nên không đủ cơ sở để xác định số tiền người chơi thắng đề. Vì vậy, tổng số tiền Ng tổ chức đánh bạc trong ngày 06/7/2022 là 94.911.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 37/CT-VKSHC ngày 26/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Bùi Xuân Ng về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX:
- Áp dụng: Điểm c, khoản 1 Điều 322; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Xuân Ng từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Tịch thu sung vào Ng sách Nhà nước đối với: 01 ĐTDĐ Iphone 7 màu đen, số Imei: 353073099337305, gắn sim số: 0901164350.
Trả lại cho bị cáo Bùi Xuân Ng: 01 ĐTDĐ Iphone 7 màu đen, số Imei: 355313086463674, gắn sim số: 0935431143.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Sung vào công quỹ Nhà nước số tiền thu lợi bất chính bị cáo Bùi Xuân Ng đã nộp là 4.000.000đ (bốn triệu đồng) theo Biên lai thu số 0002018 ngày 23.4.2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận H, thành phố Đà Nẵng.
Bị cáo không có ý kiến tự bào chữa, không có ý kiến tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Xuân Ng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận: Trong ngày 06/7/2022, bị cáo Bùi Xuân Ng đã tổ chức đánh bạc dưới hình thức nhận tin nhắn ghi số đề các đài miền Bắc, Trung, Nam từ 06 người với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 94.911.000đồng. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 37/CT-VKSHC ngày 26/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận H đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
[3.1] Hành vi của các bị cáo đã đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương và quản lý của nhà nước về kết quả mở thưởng xổ số. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng nên HĐXX xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội để đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[3.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[3.3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính; bị cáo có ông nội là ông Bùi Văn Nhỏ được Chính Phủ tặng kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù, đày nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[3.4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là người nghiện ma túy, đã bị tập trung vào Trung tâm giáo dục Dạy nghề 05-06 thành phố Đà Nẵng thời gian 12 tháng. Năm 2012, bị Tòa án nhân dân quận H, thành phố Đà Nẵng xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 BLHS 1999. Ngoài ra, bị cáo còn có hành vi tàng trữ 0,587 gam ma túy tổng hợp loại MA, do chưa đủ trọng lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an quận H đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 58/QĐ-XPHC ngày 04.5.2012, xử phạt 1.500.000đ. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh tại Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng và Văn bản số 445 ngày 28.5.2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, thành phố Đà Nẵng thì không tìm thấy tài liệu liên quan đến việc thi hành quyết định này. Do đó, HĐXX xét thấy không đủ cơ sở để xác định Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nêu trên là nhân thân của bị cáo.
[4] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo Bùi Xuân Ng hình phạt tù có
thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng đồng thời cũng để răn đe, phòng chống tội phạm nói chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên HĐXX xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý như sau:
- Đối với 01 ĐTDĐ Iphone 7 màu đen, số Imei: 353073099337305, gắn sim số: 0901164350: Qua điều tra xác định chiếc điện thoại này bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu để sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 ĐTDĐ Iphone 7 màu đen, số Imei: 355313086463674, gắn sim số: 0935431143. Kết quả điều tra xác định chiếc điện thoại này là tài sản của bị cáo, sử dụng liên lạc cá nhân, không sử dụng vào việc phạm tội. Do đó, cần tuyên trả lại cho bị cáo.
[7] Về số tiền thu lợi bất chính: Bị cáo Bùi Xuân Ng khai đã ghi đề cho Tuấn từ khoảng đầu tháng 6/2022 đến ngày 06/7/2022, được Tuấn trả công số tiền 4.000.000 đồng. HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS, buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính nêu trên để sung công quỹ Nhà nước. Tuy nhiên, ngày 23.4.2024, bị cáo Ng đã tự nguyện nộp lại số tiền nêu trên tại Chi cục thi hành án dân sự quận H theo Biên lai thu số 00020178. Do đó, HĐXX xét thấy cần tuyên sung vào Ng sách Nhà nước đối với số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo Ng đã nộp.
[8] Từ những nhận định trên, xét thấy lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H về tội danh và áp dụng các điều luật có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Đối với đối tượng tên Tuấn có hành vi tổ chức đánh bạc, hiện chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận H tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.
[10] Cơ quan CSĐT Công an quận H đã trả lại 01 xe mô tô hiệu Vario màu trắng bạc biển số 43C1-95297 cho bị cáo Bùi Xuân Ng là phù hợp nên HĐXX không đề cập giải quyết.
[11] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo Bùi Xuân Ng phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân Ng phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
-
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Xuân Ng 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu sung Ng sách Nhà nước: 01 ĐTDĐ Iphone 7 màu đen, số Imei: 353073099337305, gắn sim số: 0901164350.
- - Trả lại cho bị cáo Bùi Xuân Ng: 01 ĐTDĐ Iphone 7 màu đen, số Imei: 355313086463674, gắn sim số: 0935431143.
(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận H, TP Đà Nẵng đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/3/2024).
-
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự:
Sung vào Ng sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính bị cáo Bùi Xuân Ng đã nộp là 4.000.000đ (bốn triệu đồng) theo Biên lai thu số 0002018 ngày 23.4.2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận H, thành phố Đà Nẵng.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Xuân Ng phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29-5-2024).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Thanh Nga |
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H - TP ĐÀ NẴNG về tổ chức đánh bạc
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H - TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Bùi Xuân Ng phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
