|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 75/2024/HS-ST Ngày: 29/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Ngân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Thành Trại.
Ông Tạ Công Minh.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Mai Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc T - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Triệu Minh Đ (Bà H), sinh ngày 14/11/1999tại tỉnh Tiền Giang. Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, Tiền Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Minh T1 và bà Nguyễn Thị H1; em ruột: 01 người; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị can bị bắt tạm giữ từ ngày 23/11/2023, chuyển tạm giam từ ngày 26/11/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Nhân thân: Năm 2020, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định số 14/2020/QĐ – TA ngày 8/4/2020, thời hạn 15 tháng, đã chấp hành xong ngày 25/8/2021.
2/ Họ và tên: Đặng Hoàng K, sinh ngày 29/11/1994, tại Long An. Nơi cư trú: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Quang M và bà Phan Thị Đ1; A, chị, em ruột: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1991; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị can bị bắt tạm giữ từ ngày 23/11/2023, chuyển tạm giam từ ngày 26/11/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 22/11/2023, Đặng Hoàng K và Triệu Minh Đ hẹn gặp ở nhà nghỉ “Diễm Thư” tại ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Long An để sử dụng ma túy. Đ điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 63B8-330.16 đến nhà nghỉ gặp K, do không có ma túy nên Đ rủ K đi mua để sử dụng thì K đồng ý. Đ điện thoại cho người tên L (không rõ nhân thân, địa chỉ) nhà thuê trọ ở khu vực xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang nhờ L hỏi mua dùm gói ma túy với giá 2.100.000 đồng và được hẹn giao ma túy ở khu vực vòng xoay T, tỉnh Long An. K điều khiển xe 63B8-330.16 chở Đ đến điểm hẹn thì có một người nam (không rõ nhân thân) điều khiển xe mô tô đến giao ma túy cho Đ. Sau khi có được ma túy, K và Đ đến nhà trọ của L (không xác định được tên nhà trọ) rồi lấy ra một ít ma túy để Đ, K và L cùng sử dụng. Đến khoảng 03 giờ ngày 23/11/2023, Đ và K ra về. Đ đem cất giấu số ma túy còn lại vào cốp xe 63B8-330.16, Khi Đ và K đi đến đoạn đường L, thuộc ấp T, xã T thì bị Công an xã T tuần tra, phát hiện do không có giấy tờ tùy thân nên Đ và K bị đưa về trụ sở Công an xã Tân Hội Đông làm việc. Qua kiểm tra, phát hiện trong cốp xe 63B8-330.16 có cất giấu ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
* Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang ghi hồi 04 giờ 10 phút ngày 23/11/2023 tại ấp khu phố, xã T (Trụ sở Công an xã T) ghi nhận: Qua kiểm tra xe 63B8-330.16 phát hiện trong cốp xe có 01 túi nylon (loại túi zip) có in chữ KF94 được vuốt kín, bên trong túi có: 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong một đầu (gọi là nỏ để dùng sử dụng ma túy đá) và một ống hút bằng nhựa được gắn vào nắp chai nhựa màu đỏ; 01 cái kéo bằng kim loại màu trắng; 02 đoạn ống nhựa một đầu được cắt nhọn và nhiều túi nylon không có chứa gì; 01 túi vải màu đỏ có dây kéo, bên trong có 01 hộp nhựa trong suốt hình vuông, bên trong hộp nhựa có chứa 01 túi nylon màu trắng loại túi zip, 01 đầu có viền màu đỏ, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, nghi vấn là ma túy tổng hợp; 02 túi nylon màu trắng được dán kín trong đó: Túi thứ nhất ghi nhận bên trong có 04 gói nylon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, nghi vấn là ma túy tổng hợp và 08 gói nylon màu trắng, bên trong không có chứa gì. Túi nylon thứ hai ghi nhận bên trong có chứa 10 gói nylon màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, nghi vấn là ma túy tổng hợp. Theo lời trình bày của K và Đ, tất cả chất màu trắng được chứa trong các gói nylon là ma túy tổng hợp, K và Đ mua về để sử dụng. Tang vật và người bị bắt quả tang được chụp ảnh ghi nhận.
* Thu giữ, xử lý vật chứng, đồ vật:
- - 01 (một) túi nylon màu trắng (loại túi zip) một đầu có viền màu đỏ bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
- - 02 (hai) túi nylong màu trắng được dán kín, trong đó:
- Túi nylon thứ nhất: có 04 gói nylon màu trắng được hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng và 08 gói nylon màu trắng bên trong không có chứa gì.
- Túi nylon thứ hai: có 10 gói nylon màu trắng được hàn kín hai đầu bên trong các gói đều có chứa tinh thể màu trắng.
- - 01 (một) túi nylon màu đen.
- - 01 (một) ống hút bằng nhựa được gắn vào một nắp chai nhựa màu đỏ.
- - 01 (một) đoạn ống thủy tinh được uốn cong một đầu (nỏ).
- - 01 (một) túi nhựa (loại túi zip) có chữ KF94.
- - 01 (một) cái kéo bằng kim loại màu trắng.
- - 02 (hai) đoạn ống nhựa một đầu được cắt nhọn.
- - 01 (một) túi vải màu đỏ có dây kéo.
- - 01 (một) hộp nhựa trong suốt hình vuông.
- - Nhiều túi nylon màu trắng bên trong không chứ gì.
- - 01 (một) xe mô tô biển số 63B8-330.16, qua tra cứu xe do Triệu Minh Đ đứng tên chủ sở hữu.
- - 01 (một) điện thoại di động màu xanh có chữ Realme.
- - 01 (một) điện thoại di động Iphone vỏ màu xám
Tất cả được niêm phong trong 01 bì thư, bên ngoài có chữ ký ghi họ tên Triệu Minh Đ và Đặng Hoàng K.
* Tại Bản kết luận giám định số 206/KL-KTHS ngày 24/11/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh T kết luận:
“- Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 12,0068 gam, loại Methamphetamine (trong đó: mẫu ký hiệu M1 có khối lượng 8,5874 gam, mẫu kí hiệu M2 có khối lượng 0,4683 gam, mẫu kí hiệu M3 có khối lượng 0,4836 gam, mẫu kí hiệu M4 có khối lượng 0,3464 gam, mẫu kí hiệu M5 có khối lượng 2,1211 gam).
- Riêng 08 (tám) gói nylon màu trắng, đều đã bị cắt một đầu, bên trong không chứa gì nên không có đối tượng để thực hiện giám định.”
Theo lời khai của Đ thì Đ nhờ một người tên L (không rõ nhân thân, địa chỉ) mua ma túy và được người nam thanh niên (không rõ nhân thân) giao ma túy tại vòng xoay huyện T, tỉnh Long An. Sau đó, Đ và K mang đến phòng trọ của L lấy một ít ma túy ra để sử dụng cùng với L.
Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKSCT ngày 13/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Triệu Minh Đ và Đặng Hoàng K về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Triệu Minh Đ và Đặng Hoàng K thừa nhận
hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, các bị cáo biết sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang giữ
nguyên quyết định truy tố bị cáo Triệu Minh Đ và Đặng Hoàng K về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Triệu Minh Đ và Đặng Hoàng K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Triệu Minh Đ từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Hoàng K từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù
2.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự :
- Tịch thu tiêu hủy : Số ma túy còn lại sau khi giám định; 01 (một) túi nylon màu đen; 01 (một) ống hút bằng nhựa được gắn vào một nắp chai nhựa màu đỏ; 01 (một) đoạn ống thủy tinh được uốn cong một đầu (nỏ); 01 (một) túi nhựa (loại túi zip) có chữ KF94; 01 (một) cái kéo bằng kim loại màu trắng; 02 (hai) đoạn ống nhựa một đầu được cắt nhọn; 01 (một) túi vải màu đỏ có dây kéo; 01 (một) hộp nhựa trong suốt hình vuông; Nhiều túi nylon màu trắng bên trong không chứa gì.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63B8-330.16 ( không kiểm tra số khung, số máy); 01 (một) điện thoại di động Iphone vỏ màu xám ( không kiểm tra chi tiết bên trong).
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an H2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét thấy:
Tại phiên tòa, bị cáo Triệu Minh Đ và Đặng Hoàng K khai nhận:
Khoảng 20 giờ ngày 22/11/2023, Đặng Hoàng K và Triệu Minh Đ hẹn gặp ở nhà nghỉ “Diễm Thư” tại ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Long An để sử dụng ma túy. Do không có ma túy nên Đ rủ K đi mua để sử dụng thì K đồng ý. Đ điện thoại cho người tên L nhờ L hỏi mua
dùm gói ma túy với giá 2.100.000 đồng và được hẹn giao ma túy ở khu vực vòng xoay T, tỉnh Long An. K điều khiển xe 63B8-330.16 chở Đ đến điểm hẹn để lấy ma túy. Sau khi có được ma túy, K và Đ đến nhà trọ của L và tại nhà trọ Đ, K và L cùng sử dụng. Đến khoảng 03 giờ ngày 23/11/2023, Đ và K ra về. Đ đem cất giấu số ma túy còn lại vào cốp xe 63B8-330.16, Khi Đ và K đi đến đoạn đường L, thuộc ấp T, xã T thì bị Công an xã T tuần tra, phát hiện nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Lời nhận tội trên của các bị cáo phù hợp với các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã đủ cơ sở xác định các bị cáo Triệu Minh Đ và Đặng Hoàng K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[4] Xét hành vi của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người nghiện, sử dụng ma túy, các bị cáo biết rõ ma túy là chất gây nghiện làm người sử dụng ma túy rất khó từ bỏ, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và tinh thần của người nghiện; đây là nguồn gốc làm phát sinh các tệ nạn xã hội, các loại tội phạm khác, làm tha hóa lối sống thế hệ thanh niên, tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm chế độ độc quyền quản lý nhà nước đối với những chất gây nghiện mà còn gây ảnh hưởng xấu đến đời sống người dân nơi các bị cáo thực hiện tôi phạm nên phải chịu mức án nghiêm minh nhằm cải tạo giáo dục các bị cáo thành công dân tốt.
[7] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[9] Về áp dụng hình phạt: Xét thấy cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Bị cáo Triệu Minh Đ là người rủ rê, khởi xướng nên khi quyết định hình phạt có phần nghiêm khắc hơn bị cáo Đặng Hoàng K. Tuy nhiên các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, không có tình tiết tăng nặng. Do đó, Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình.
Theo lời khai của Đ thì Đ nhờ một người tên L (không rõ nhân thân, địa chỉ) mua ma túy và được người nam thanh niên (không rõ nhân thân) giao ma túy tại vòng xoay huyện T, tỉnh Long An. Sau đó, Đ và K mang đến phòng trọ của L lấy một ít ma túy ra để sử dụng cùng với L. Do không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể của L và nam thanh niên giao ma túy nên không có cơ sở xác minh làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H2, tỉnh Tiền Giang tách ra để tiếp tục xác minh, nếu có hành vi phạm tội sẽ tiến hành xử lý sau nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[10] Về vật chứng vụ án:
- Cần tịch thu tiêu hủy : 01 (một) túi niêm phong ký hiệu vụ số: 206, ghi ngày 24 tháng 11 năm 2023, có chữ ký in họ tên: Huỳnh Tấn L1, Nguyễn Thị Kiều L2 (Giám định viên – Bên giao), Trần Thanh D (Trợ lý giám định); chữ ký ghi họ tên: Lê Phương T2 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; 01 (một) túi nylon màu đen; 01 (một) ống hút bằng nhựa được gắn vào một nắp chai nhựa màu đỏ; 01 (một) đoạn ống thủy tinh được uốn cong một đầu (nỏ); 01 (một) túi nhựa (loại túi zip) có chữ KF94; 01 (một) cái kéo bằng kim loại màu trắng; 02 (hai) đoạn ống nhựa một đầu được cắt nhọn; 01 (một) túi vải màu đỏ có dây kéo; 01 (một) hộp nhựa trong suốt hình vuông; Nhiều túi nylon màu trắng bên trong không chứa gì.
Đối với xe mô tô biển số 63B8-330.16 và 01 (một) điện thoại di động Iphone vỏ màu xám là của tài sản của bị cáo Đ. Bị cáo Đ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung hủy.
[11] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[12] Xét đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, xử lý vật chứng và đề nghị mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt:
- Tuyên bố các bị cáo Triệu Minh Đ và Đặng Hoàng K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Triệu Minh Đ 06 ( sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ thời điểm bắt tạm giữ là ngày 23/11/2023.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Hoàng K 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ thời điểm bắt tạm giữ là ngày 23/11/2023.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự :
- Tịch thu tiêu hủy : 01 (một) túi niêm phong ký hiệu vụ số: 206, ghi ngày 24 tháng 11 năm 2023, có chữ ký in họ tên: Huỳnh Tấn L1, Nguyễn Thị Kiều L2 (Giám định viên – Bên giao), Trần Thanh D (Trợ lý giám định); chữ ký ghi họ tên: Lê Phương T2 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG: 01 (một) túi nylon màu đen; 01 (một) ống hút bằng nhựa được gắn vào một nắp chai nhựa màu đỏ; 01 (một) đoạn ống thủy tinh được uốn cong một đầu (nỏ); 01 (một) túi nhựa (loại túi zip) có chữ KF94; 01 (một) cái kéo bằng kim loại màu trắng; 02 (hai) đoạn ống nhựa một đầu được cắt nhọn; 01 (một) túi vải màu đỏ có dây kéo; 01 (một) hộp nhựa trong suốt hình vuông; Nhiều túi nylon màu trắng bên trong không chứa gì.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63B8-330.16 ( không kiểm tra số khung, số máy); 01 (một) điện thoại di động Iphone vỏ màu xám ( không kiểm tra chi tiết bên trong).
( Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/3/2024)
3. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN Võ Thị Thu Ngân |
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo: Triệu Văn Đạt, Đặng Hoàng Khánh phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
