Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HS-PT

Ngày: 27/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng

- Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thái Lan và bà Đậu Thị Quy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai để xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 76/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Trần Nhật H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2024/HS-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân Tx. Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

- Bị cáo có kháng cáo: Trần Nhật H, sinh ngày 08 tháng 08 năm 2001 tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Làm biển, trình độ văn hoá (học vấn): 06/12, dân tộc: Kinh, giới tính: Nam, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam, con ông: Trần C, sinh năm 1972 và bà Lê Thị T, sinh năm 1974, tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/10/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã S, có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 25/10/2023, Trần Nhật H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn: trắng – đen, biển kiểm soát 78D1-099.47 đứng tên chủ sở hữu trên chứng nhận đăng ký xe mô tô là bà Lê Thị T (là mẹ ruột của bị cáo H) đi từ nhà ở tại thôn C, xã X, thị xã S đến 01 cửa hàng tạp hoá tại xã X, thị xã S mua khẩu trang. Lúc này, H thấy bà Trần Thị T1 và chị Nguyễn Thị Trần G (là con ruột của bà T1) đang đứng mua hàng, trên cổ của bà T1 đeo 01 sợi dây chuyền vàng nên H nảy sinh ý định cướp giật tài sản. Ngay khi bà T1 và chị G rời khỏi tiệm tạp hoá đi bộ về hướng ngã tư D thì H điều khiển xe máy bám theo sau tìm cơ hội để cướp giật tài sản. Do khu vực này có nhiều người qua lại nên H tiếp tục theo dõi bà T1 và chị G. Đến khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày, chị G điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 78D1-354.07 chở bà T1 và cháu Huỳnh Thị Diễm H1 (là con ruột của chị G) đang đi trên đường bê tông thôn D, xã X, quan sát thấy đoạn đường vắng người nên H tăng ga vượt lên phía bên trái gần sát với xe mô tô của chị G và dùng tay phải giật lấy sợi dây chuyền trên cổ bà T1 làm mặt dây chuyền rơi xuống đường, bà T1, chị G và cháu H1 bị té ngã xe xuống đường làm bà T1 bị một vết trầy xước da cơ diện 0,4cm trên vùng cổ nhưng không ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, còn chị G và cháu H1 không bị thương tích gì, xe mô tô của chị G không bị hư hỏng. Sau khi thực hiện hành vi cướp giật, H cất sợi dây chuyền vào túi quần và nhanh chóng điều khiển xe mô tô tẩu thoát khỏi hiện trường. Sau đó, H đem sợi dây chuyền đến tiệm V ở thôn E, xã X, thị xã S bán cho anh Đặng Hưng T2 được số tiền 11.200.000đ rồi tiêu xài hết.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 65/KL-HĐĐG ngày 30/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S, kết luận: Tài sản bị cướp giật vào ngày 25/10/2023 có tổng giá trị là 16.017.000đ, trong đó: Dây chuyền vàng 18K, giá trị sử dụng còn lại 68% có trọng lượng 03 chỉ 05 phân 7,6 ly trị giá 13.195.000đ; mặt dây chuyền vàng 18K giá trị sử dụng còn lại 68% có trọng lượng 07 phân 6,5 ly trị giá 2.822.000đ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2024/HS-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Trần Nhật H phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng điểm d, khoản 2, Điều 171; điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Nhật H 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 30/10/2023).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ngày 03/8/2024, bị cáo Trần Nhật H có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Nhật H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo đã thực hiện như nội dung bản án sơ thẩm đã mô tả.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Nhật H, giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Lời khai của bị cáo nhận tội của bị cáo Trần Nhật H tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 50 phút ngày 25/10/2023, tại đoạn đường bê tông thôn D, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, Trần Nhật H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 78D1-099.47 đuổi theo xe mô tô biển kiểm soát 78D1-354.07 do chị Nguyễn Thị Trần G điều khiển chở bà Trần Thị T1 và cháu Huỳnh Thị Diễm H1. Khi đến đoạn đường vắng người, lợi dụng sơ hở của bị hại, bị cáo đã nhanh chóng áp sát và dùng tay giật mạnh lấy 01 sợi dây chuyền vàng của bà Trần Thị T1 trị giá 13.195.000₫ và 01 mặt dây chuyền vàng trị giá 2.822.000₫ sau đó điều khiển xe mô tô tẩu thoát. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt của bà T1 là 16.017.000đ. Bị cáo đã dùng thủ đoạn nguy hiểm để chiếm đoạt tài sản của người khác nên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo Trần Nhật H về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Điểm d, Khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Nhật H nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an - an toàn xã hội tại địa phương nên cần xử phạt nghiêm. Khi lượng hình, bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để phạt bị cáo 05 (năm) năm tù là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị hại Trần Thị T1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh tại cấp phúc thẩm. Tuy nhiên, xét thấy mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là không nặng, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, mà chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm, để đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[3] Bị cáo Trần Nhật H kháng cáo không được chấp nhận, phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Nhật H – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Nhật H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

1. Về Hình phạt: Áp dụng Điểm d, Khoản 2, Điều 171; Điểm b, s, K, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Nhật H 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 30/10/2023).

2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Trần Nhật H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - TAND Tx Sông Cầu (3);
  • - VKSND Tx Sông Cầu;
  • - CQ CSĐT Công an Tx Sông Cầu;
  • - Chi Cục THADS Tx Sông Cầu;
  • - NTGTT, CQ TT;
  • - P. KTNV THAHS; Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HS-PT ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự (cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 75/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN - HSPT - Trần Nhật H - điểm d khoản 2 đ171 - CT HÙNG
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger