Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM KHÊ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/HSST

Ngày 27/9/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ- TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Bộ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trò.

Ông Nguyễn Việt Tú.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 27/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2024/TLST-HS ngày 16/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST-HS ngày 17/9/2024 đối với bị cáo:

Họ tên: Hoàng Văn N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày 03 tháng 4 năm 1984 tại C, Phú Thọ;

Nơi cư trú: khu Trung Thuận 1, xã Yên Tập, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ;

Chỗ ở: khu Tiên Phong, xã Yên Tập, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12;

Con ông: Hoàng Văn T - sinh năm 1957 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị T1 - sinh năm 1957.

Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất;

Vợ: Đặng Thị T2 - sinh năm 1988 (đã ly hôn năm 2011), không xác định được nơi cư trú.

Con: Bị cáo chưa có con.

Về tiền án: 03 tiền án.

+ Bản án số 32/HSST ngày 28/5/2009 của TAND huyện Cẩm Khê, áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt Hoàng Văn N 12 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” và 50.000 đồng án phí HSST. Tháng 6/2010, N đã nộp xong tiền án phí và đến ngày 06/01/2010 Nhận chấp xong hình phạt tù, xác định chưa được xóa án tích.

+ Bản án số 532/HSST ngày 22/11/2010 của TAND quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 (tái phạm) Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt Hoàng Văn N 32 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 200.000 đồng án phí HSST. Tháng 8/2012 N đã nộp xong tiền án phí và đến ngày 15/5/2013 Nhận chấp xong hình phạt tù, xác định chưa được xóa án tích.

+ Bản án số 102/HSST ngày 29/9/2014 của TAND thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, áp dụng điểm p khoản 2, 5 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt Hoàng Văn N 08 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 7.000.000 đồng nộp NSNN và 200.000 đồng án phí HSST. Ngày 19/6/2021, Nhận chấp hành xong hình phạt tù, nhưng đến ngày phạm tội Nhận chưa nộp án phí và tiền phạt của bản án nên chưa được xóa án tích. Ngày 04/7/2024 bà Nguyễn Thị T1 là mẹ đẻ của N mới nộp thay tiền án phí và tiền phạt là 7.200.000 đồng, xác định chưa được xóa án tích.

Về tiền sự: Không.

Về nhân thân:

+ Bản án số 832/HSST ngày 26/9/2003 của TAND thành phố Hà Nội, áp dụng điểm e khoản 2 Điều 255, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt Hoàng Văn N 03 năm tù, về tội “Môi giới mại dâm” và truy thu 300.000 đồng nộp NSNN, 50.000 đồng án phí HSST. Ngày 28/10/2005, N đã nộp xong tiền án phí, tiền truy thu và đến ngày 29/4/2005 Nhận chấp xong hình phạt tù, xác định đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 28/6/2024 đến ngày 04/7/2024. Hiện đang bị tạm giam từ ngày 04/7/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 28/6/2024, Công an xã Y, huyện C nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại nhà của Hoàng Văn N - sinh năm 1984, thuộc khu T, xã Y, huyện C, đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Công an xã Y đã báo cáo vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an huyện C. Đến 20 giờ cùng ngày, tổ công tác Đội cảnh sát hình sự về kinh tế - ma túy Công an huyện C phối hợp với Công an xã Y đến nhà Nhận để kiểm tra, thì phát hiện, bắt quả tang Hoàng Văn N đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại chỗ, N đã tự giác giao nộp 01 (một) gói giấy, mặt ngoài màu đen - trắng - hồng, mặt trong màu trắng, bên trong chứa chất bột cục, màu trắng và 01 (một) túi nilon màu trong suốt, miệng túi có viền màu đỏ, mép túi có khuy bấm, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng pha lẫn chất bột màu đen. Hoàng Văn N khai gói giấy bên trong có ma túy H và túi nilon bên trong có ma túy đá là của Nhận tàng trữ để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong số vật chứng trên theo quy định. Ngoài ra còn tạm giữ của Nhận 01 bật lửa ga màu xanh. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn N tại khu T, xã Y, huyện C nhưng không phát hiện, thu giữ gì.

Ngày 29/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định số 746, trưng cầu giám định đối với chất bột cục, màu trắng chứa trong 01 (một) gói giấy, mặt ngoài màu đen - trắng - hồng, mặt trong màu trắng và chất rắn dạng tinh thể màu trắng pha lẫn chất bột màu đen chứa trong 01 (một) túi nilon màu trong suốt, miệng túi có viền màu đỏ, mép túi có khuy bấm, thu giữ của Hoàng Văn N khi bắt quả tang ngày 28/6/2024.

Tại Kết luận giám định số 910/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P, kết luận:

+ Chất bột cục, màu trắng chứa trong 01 gói giấy gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,141 gam, loại Heroine (Heroine), có tên khoa học là D được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Heroine (hay Heroine): Số thứ tự 9, Danh mục IA, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.

+ Chất rắn dạng tinh thể màu trắng và chất bột màu đen chứa trong 01 túi nilon gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,750 gam. Methamphetamine số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.

H1 lại đối tượng giám định: 0,090 gam chất bột, cục màu trắng; 0,517 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng và chất bột màu đen; cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.

Ngày 29/6/2023, Công an huyện C có đề nghị Trung tâm y tế huyện C tiến hành xác định tình trạng nghiện chất ma tuý đối với Hoàng Văn N. Kết quả xác định tình trạng nghiện cùng ngày của Trung tâm y tế huyện C đối với Hoàng Văn N cho kết quả dương tính với chất ma tuý, gồm: Mop - morphin/heroine (nhóm thuốc phiện); A (nhóm ma túy tổng hợp); MET - Methamphetamine (nhóm ma túy đá). Tại cơ quan điều tra Nhận khai nhận đã nghiện chất ma túy từ lâu, có sử dụng loại ma túy Heroine và loại ma túy đá.

Quá trình điều tra đã xác định:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên trưa ngày 28/6/2024, Hoàng Văn N đi đến khu vực nhà ga H2 để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây N đã gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết được 02 (hai) loại ma túy khác nhau (ma túy H và ma túy đá pha với bột sái ma túy màu đen), với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Nhận bắt xe khách đi về nhà ở khu T, xã Y, huyện C. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, N ngồi một mình trong phòng khách (là nhà riêng được mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T1 - sinh năm 1957 cho ở nhờ, nhưng bà T1 không biết Nhận tàng trữ ma túy), thì N có lấy một ít ma túy đá pha lẫn chất bột sái ma túy màu đen trong túi nilon màu trong suốt ra sử dụng, bằng cách cho ma túy lên mặt giấy bạc dùng bật lửa đốt để hít ma túy vào cơ thể. Sau khi đốt giấy bạc trên bề mặt có ma túy đá sử dụng xong, thì phần giấy bạc cũng bị cháy hết, số ma túy đá còn lại Nhận gói lại trong túi nilon màu trong suốt. Một lúc sau, khi N đang ngồi ở giữa phòng khách, bên cạnh người vẫn để 01 gói giấy bên trong chứa ma túy Heroine và 01 túi nilon bên trong chứa ma túy đá thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai, các biên bản hỏi cung, vật chứng thu giữ và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 64/2024/CT-VKSCK, ngày 12/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đã quyết định truy tố bị cáo Hoàng Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: * Áp dụng: Điểm o khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

* Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N từ 05 (Năm) năm 06 ( Sáu) tháng đến 05 (Năm) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 28/6/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Văn N.

* Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu để tiêu hủy: 01 (một) Túi niêm phong dán kín, có mã số: PS3A 068834. Mặt trước túi có ghi: Trả lại 0,090 gam chất bột, cục màu trắng; 0,517 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng và chất bột màu đen; cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu giữ của Hoàng Văn N - sinh năm 1984, Nơi cư trú: T, xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Mặt sau bì: Có 05 dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P tại các mép dán và có 03 loại chữ ký; 01 bật lửa ga màu xanh.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng hình sự:

    Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Về căn cứ buộc tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 20 giờ 00 phút ngày 28/6/2024, tại nhà riêng được mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T1 cho Hoàng Văn N ở nhờ, thuộc T, xã Y, huyện C, N đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,141 gam Heroine và 0,750 gam Methamphetamine để sử dụng, thì bị bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của Hoàng Văn N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 quy định tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: ...

o) Tái phạm nguy hiểm”.

Do vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  1. Về tính chất hành vi phạm tội:

    Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, sử dụng chất ma túy của Nhà nước, góp phần làm lan truyền tệ nạn nghiện hút ma túy; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội và thuộc trường hợp rất nghiêm trọng.

  2. Về tiền án, tiền sự, nhân thân:

    Về tiền án: 03 tiền án.

    • + Bản án số 32/HSST ngày 28/5/2009 của TAND huyện Cẩm Khê, áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt Hoàng Văn N 12 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” và 50.000 đồng án phí HSST. Tháng 6/2010, N đã nộp xong tiền án phí và đến ngày 06/01/2010 Nhận chấp xong hình phạt tù, xác định chưa được xóa án tích.
    • + Bản án số 532/HSST ngày 22/11/2010 của TAND quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 (tái phạm) Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt Hoàng Văn N 32 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 200.000 đồng án phí HSST. Tháng 8/2012 N đã nộp xong tiền án phí và đến ngày 15/5/2013 Nhận chấp xong hình phạt tù, xác định chưa được xóa án tích.
    • + Bản án số 102/HSST ngày 29/9/2014 của TAND thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, áp dụng điểm p khoản 2, 5 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt Hoàng Văn N 08 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 7.000.000 đồng nộp NSNN và 200.000 đồng án phí HSST. Ngày 19/6/2021, Nhận chấp hành xong hình phạt tù, nhưng đến ngày phạm tội Nhận chưa nộp án phí và tiền phạt của bản án nên chưa được xóa án tích. Ngày 04/7/2024 bà Nguyễn Thị T1 là mẹ đẻ của N mới nộp thay tiền án phí và tiền phạt là 7.200.000 đồng, xác định chưa được xóa án tích.

    Về tiền sự: Bị cáo không có tiền sự.

    Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân: Bản án số 832/HSST ngày 26/9/2003 của TAND thành phố Hà Nội, áp dụng điểm e khoản 2 Điều 255, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt Hoàng Văn N 03 năm tù, về tội “Môi giới mại dâm” và truy thu 300.000 đồng nộp NSNN, 50.000 đồng án phí HSST. Ngày 28/10/2005, N đã nộp xong tiền án phí, tiền truy thu và đến ngày 29/4/2005 Nhận chấp xong hình phạt tù, xác định đã được xóa án tích.

  3. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do lần phạm tội trước Nhận bị kết án về hành vi rất nghiêm trọng do cố ý và là tái phạm nguy hiểm, trong khi đó lần phạm tội này bị cáo lại thực hiện hành vi rất nghiêm trọng do cố ý. Do đó lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết là tái phạm nguy hiểm và đây là tình tiết định khung hình phạt theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy lần phạm tội này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo qui định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

    Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, trên cơ sở để phục vụ công tác đấu tranh chống, phòng ngừa chung tội phạm và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là áp dụng hình phạt tù với mức đủ để bị cáo tỉnh ngộ, sớm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

  4. Về hình phạt bổ sung:

    Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Kết quả xác minh của Cơ quan điều tra và lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo sinh sống cùng gia đình nhưng không có tài sản riêng gì có giá trị, bị cáo làm nghề lao động tự do không ổn định, không xác định được thu nhập. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  5. Về vật chứng:
    • - Đối với 01 (một) Túi niêm phong dán kín, có mã số: PS3A 068834. Mặt trước túi có ghi: Trả lại 0,090 gam chất bột, cục màu trắng; 0,517 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng và chất bột màu đen; cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu giữ của Hoàng Văn N - sinh năm 1984, Nơi cư trú: T, xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Mặt sau bì: Có 05 dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P tại các mép dán và có 03 loại chữ ký cần tịch thu tiêu huỷ.
    • - Đối với: 01 bật lửa ga màu xanh cần tịch thu tiêu huỷ.
  6. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Nhận ngày 28/6/2024 tại khu vực nhà ga Hà Nội. Quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ của người này, nên không có căn cứ để xử lý.
  7. Đối với bà Nguyễn Thị T1 - sinh năm 1957 mẹ đẻ bị cáo N, bà T1 cho nhận ở nhờ là nhà riêng của bà, nhưng bà T1 không biết N tàng trữ ma túy việc Nhận tàng trữ ma túy tại nhà thì bà T1 không biết nên không đề cập xử lý là phù hợp.
  8. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  9. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tham gia tranh luận đối với bản luận tội và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và mong muốn Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Căn cứ vào: Điểm o khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • * Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • * Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 28/6/2024.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Văn N.
  • * Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Tịch thu để tiêu hủy: 01 (một) Túi niêm phong dán kín, có mã số: PS3A 068834. Mặt trước túi có ghi: Trả lại 0,090 gam chất bột, cục màu trắng; 0,517 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng và chất bột màu đen; cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu giữ của Hoàng Văn N - sinh năm 1984, Nơi cư trú: T, xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Mặt sau bì: Có 05 dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P tại các mép dán và có 03 loại chữ ký; 01 bật lửa ga màu xanh.
  • (Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/9/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê).
  • Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
  • Bị cáo Hoàng Văn N phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  • Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

-VKSND huyện Cẩm Khê;

-VKSND tỉnh Phú Thọ;

-UBND xã nơi B/c cư trú;

-CQCSĐT CA huyện Cẩm Khê;

-THADS huyện Cẩm khê;

-Người tham gia tố tụng;

-Lưu hồ sơ+VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Bộ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HSST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 75/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger