Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

NAM

TỈNH P

Bản án số: 75/2024/HNGĐ-ST

Ngày 27 tháng 8 năm 2024

V/v “tranh chấp hôn nhân và gia đình”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH P

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa Phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Tuấn;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo;

- Bà Nguyễn Thị Phẩm

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh P tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 174/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Đinh Thị C - sinh năm 1996.
  • ĐKHKTT: khu 4 Tân Tiến, thị trấn H, Huyện T, tỉnh P.

    Hiện nay đang ở nước ngoài.

  • Bị đơn: Anh Trần Lê H - sinh năm 1989.
  • ĐKHKTT: khu 4 Tân Tiến, thị trấn H, Huyện T, tỉnh P.

    Hiện nay đang ở nước ngoài.

  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đào Thị D, sinh năm 1959.
  • ĐKHKTT: khu 4 Tân Tiến, thị trấn H, Huyện T, tỉnh P.

    (Chị C, bà D có đơn xin xét xử vắng mặt; anh H vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Đinh Thị C trình bày: chị C và anh Trần Lê H tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau ngày 02/3/2015 tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, Huyện T, tỉnh P. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc. Từ cuối năm 2015 giữa hai vợ chồng anh chị thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống. Năm 2017 chị C sang Đài Loan sinh sống và làm việc. Từ đó đến nay tình trạng mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng giữa anh chị ngày càng nghiêm trọng. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị C đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Lê H.

Về con chung: chị Đinh Thị C xác định trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Trần Thanh L, sinh ngày 11/10/2015. Khi ly hôn chị C đề nghị Tòa án giao cháu L cho anh Trần Lê H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện nay anh H đang ở nước ngoài, chị C đề nghị Tòa án tạm giao cháu L cho bà Đào Thị D (mẹ đẻ anh H) chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L trong thời gian anh H ở nước ngoài cho đến khi anh H trở về Việt Nam.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị C tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng)/01 tháng cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: chị Đinh Thị C xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Đinh Thị C đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt mình.

Chị Đinh Thị C trình bày hiện nay chị không biết địa chỉ cụ thể của anh H ở nước ngoài nên chị không thể cung cấp địa chỉ của anh H cho Tòa án được. Chị C đề nghị Tòa án xác minh địa chỉ của anh H ở nước ngoài thông qua mẹ đẻ của anh H là bà Đào Thị D.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đào Thị D trình bày: bà là mẹ đẻ của anh Trần Lê H. Hiện nay anh H đang ở Đài Loan. Bà D vẫn thường xuyên liên lạc với anh H qua điện thoại nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh H ở chỗ nào tại Đài Loan vì anh H không nói cho bà biết. Do vậy bà D không thể cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay của anh H cho Tòa án. Bà D cũng đã nhận thay và thông báo về nội dung các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh H được biết. Việc chị C làm đơn xin ly hôn anh H bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về con chung: bà D khẳng định anh H và chị C có 01 con chung là cháu Trần Thanh L, sinh ngày 11/10/2015. Hiện nay cháu L đang được bà chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp. Bà D cũng đã thông báo cho anh H biết về yêu cầu khởi kiện của chị C và anh H có nói lại với bà là hiện nay anh H đang ở nước ngoài không thể về Việt Nam giải quyết ly hôn được nên anh H đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa anh chị theo quy định pháp luật. Về vấn đề con chung anh H nhất trí với yêu cầu của chị C, do anh đang ở nước ngoài nên anh H ủy quyền cho bà D thay mặt anh chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L cho đến khi anh H trở về Việt Nam. Bà D cũng hoàn toàn nhất trí với nguyện vọng về con chung của anh H. Bà D đề nghị Tòa án giao cháu L cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi chị C, anh H ly hôn và tạm giao cháu L cho bà được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh H ở nước ngoài. Trong thời gian bà D nuôi dưỡng, chăm sóc cháu L bà không yêu cầu ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định trình tự của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung Viện kiểm sát đề nghị: Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 116, Điều 117, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị C ly hôn anh Trần Lê H.

Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Thanh L - sinh ngày 11/10/2015 cho anh Trần Lê H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh H ở nước ngoài, tạm giao cháu L cho bà Đào Thị D chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi anh H về nước đón cháu.

Chị Đinh Thị C cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000đ/tháng, cho đến khi cháu L trưởng thành, lao động tự túc được; pL thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.

Về án phí: Chị Đinh Thị C chịu 300.000đ án phí ly hôn và 300.000đ án phí cấp dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn chị Đinh Thị C nộp đơn xin được ly hôn với anh Trần Lê H tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. Xét đơn khởi kiện để ngày 06/9/2023 của chị C có chứng thực của Văn phòng kinh tế văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc. Trong đơn khởi kiện chị C trình bày anh H hiện đang sinh sống, làm việc ở nước ngoài. Tại văn bản số 4292/QLXNC-P3 ngày 04/3/2024 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an đã xác nhận: “Trần Lê H, sinh ngày 31/7/1989, đã xuất nhập cảnh 04 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 27/4/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước”. Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh P.

Trong vụ án này chị C và anh H đều không có mặt ở Việt Nam. Chị C đã có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2, 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng với quy định của pháp luật.

Chị C và bà D đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Anh H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: chị Đinh Thị C và anh Trần Lê H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, anh chị đăng ký kết hôn với nhau ngày 02/3/2015 tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, Huyện T, tỉnh P. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, thời gian đầu cuộc sống hôn nhân giữa vợ chồng anh chị luôn hòa thuận, yêu tL nhau. Sau đó, trong quá trình chung sống giữa vợ chồng anh chị thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn trầm trọng. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị C đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Lê H. Hội đồng xét xử thấy rằng chị C và anh H đã không còn chung sống cùng với nhau, vợ chồng sống ly thân đã một thời gian dài, không có sự quan tâm chia sẻ lẫn nhau trong cuộc sống gia đình nên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị Đinh Thị C đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Lê H là có căn cứ phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó đề nghị xin ly hôn của chị C được chấp nhận.

Anh Trần Lê H hiện nay đang ở nước ngoài, chị Đinh Thị C chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh Trần Lê H ở Việt Nam mà không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh H ở nước ngoài cho Tòa án. Theo yêu cầu của chị C, Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh H ở nước ngoài thông qua mẹ đẻ của anh H là bà Đào Thị D.

Thân nhân của anh Trần Lê H là bà Đào Thị D cung cấp thông tin như sau: hiện tại bà vẫn thường xuyên liên lạc với anh H nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh H ở nước ngoài vì anh H không nói cho bà được biết. Do vậy, bà không thể cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay của anh H cho Tòa án được. Bà D cũng nhất trí nhận thay anh H các văn bản tố tụng và thông báo về nội dung các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh H biết. Căn cứ Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán - Tòa án nhân dân Tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình và Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

- Về con chung: hồ sơ vụ án thể hiện trong thời kỳ hôn nhân chị Đinh Thị C và anh Trần Lê H có 01 con chung là cháu Trần Thanh L, sinh ngày 11/10/2015. Khi ly hôn chị C đề nghị Tòa án giao cháu L cho anh Trần Lê H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện nay anh H đang ở nước ngoài, chị C đề nghị Tòa án tạm giao cháu L cho bà Đào Thị D (mẹ đẻ anh H) chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh H ở nước ngoài cho đến khi anh H trở về Việt Nam. Xét thấy: cháu L hiện đang được bà Đào Thị D (mẹ đẻ anh H) chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp. Tại đơn trình bày nguyện vọng của mình cháu L có mong muốn được ở với bố sau khi bố mẹ ly hôn. Bà Đào Thị D cũng hoàn toàn nhất trí với quan điểm về con chung của chị C và đề nghị Tòa án tạm giao cháu L cho bà được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh H ở nước ngoài. Do vậy, để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống và việc học tập của cháu L thì cần giao cháu L cho anh Trần Lê H chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi chị C và anh H ly hôn; trong thời gian anh H ở nước ngoài thì bà Đào Thị D vẫn tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L đến khi anh H trở về Việt Nam là phù hợp.

- Về cấp dưỡng nuôi con: chị C tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng)/01 tháng cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, công nợ và công sức đóng góp: chị Đinh Thị C không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con: chị Đinh Thị C phải chịu theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo đối với Bản án: các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 238; khoản 1, 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị C.

[1] Về quan hệ hôn nhân: chị Đinh Thị C được ly hôn với anh Trần Lê H.

[2] Về con chung: Giao cháu Trần Thanh L, sinh ngày 11/10/2015 cho anh Trần Lê H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Trong thời gian anh H ở nước ngoài, tạm giao cháu L cho bà Đào Thị D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu L cho đến khi anh H về nước sẽ bàn giao lại cháu L cho anh H nuôi dưỡng.

Chị Đinh Thị C tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng)/01 tháng kể từ tháng 08/2024 cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi. PL thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.

Chị Đinh Thị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[3] Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: chị Đinh Thị C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con. Xác nhận chị Đinh Thị C (do anh Phạm Tiến H nộp thay) đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000014 ngày 18/10/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh P. Chị Đinh Thị C còn phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

[5] Về quyền kháng cáo đối với Bản án: đương sự có mặt ở Việt Nam có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Các đương sự ở nước ngoài có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh P;
  • - Cục THADS tỉnh P;
  • - UBND thị trấn H;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS - AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH P về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 75/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH P
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hôn nhân gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger