|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số:75/2024/HS-ST Ngày: 26/9/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL
Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Chấn, ông Nguyễn Sỹ Thông
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Mil.
Đại diện VKSND huyện Đắk Mil tham gia phiên toà: Ông Phạm Anh Đ - Kiểm sát viên.
Ngày 26/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Mil mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024; thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 15/2024/TBTA ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Công H; sinh năm 1971; tại: tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Đinh Thị Xuân T (đã chết); Vợ là Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1980, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và Tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 12/6/2024 cho đến nay. (có mặt)
Bị hại: Ông Trần Quốc T1, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại (theo hàng thừa kế thứ nhất):
- Bà Trương Thị Anh Đ1, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (là vợ);
- Anh Trần Phương L, sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (là con ruột);
- Bà Lê Thị C1; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (là mẹ ruột).
(Bà Đ1, anh L, bà C1 vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; (có mặt)
Người làm chứng
- Anh Nguyễn Hoàng Thế T2, sinh năm 2001; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; (có mặt)
- Ông Trần Quốc H1, sinh năm 1965; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ ngày 16/3/2024, Nguyễn Công H điều khiển xe máy kéo không biển số từ nhà ra đường liên thôn thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông theo hướng từ thôn Đ ra đường H (Quốc lộ A) để đi rẫy. Do bị tay quay xe càng giật ngược làm đau khớp vai nên Nguyễn Công H đã nhờ con trai là Nguyễn Hoàng Thế T2 quay xe càng để nổ máy. Khi đi ra khỏi nhà được khoảng 05m thì H phát hiện lốp xe phía trước bên phải bị non hơi nên đã đỗ xe máy kéo bên trái đường theo hướng lưu thông của mình, thùng xe bên phải lấn ra chiếm một phần mặt đường xe lưu thông. Đến khoảng 9h00 cùng ngày, sau khi bơm xe, do không nhờ được ai nổ xe máy kéo hộ nên Nguyễn Công H để nguyên xe tại vị trí dừng đỗ, không đi rẫy nữa mà quay vào nhà. Tuy nhiên, H không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, ông Trần Quốc T1 (sinh năm 1968, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông) điều khiển xe gắn máy biển số 48FA - 1923 đi từ đường H (Quốc lộ A) vào đường liên thôn thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ để về nhà thì tông vào thùng xe máy kéo không biển số của H đang đỗ ở trên đường. Hậu quả, ông Trần Quốc T1 chết khi đi cấp cứu tại bệnh viện, xe gắn máy biển số 48FA – 1923 bị hư hỏng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường liên thôn thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Theo hướng từ đường H (Quốc lộ A) đi thôn Đ, đây là đoạn đường thẳng, được trải nhựa rộng 3,3m, không có vạch kẻ đường. Hai bên đường là khu dân cư sinh sống, trên đường không có vật cản, tầm nhìn không bị hạn chế. Lấy hướng đi từ đường H (Quốc lộ A) đi thôn Đ là chiều khám nghiệm, mép đường trái chiều khám nghiệm làm mép đường chuẩn, trụ điện T108-B10/8 nằm trong lề đường trái, cách mép đường trái 2,5m làm mốc.
Trên hiện trường phát hiện phương tiện, dấu vết cụ thể như sau:
- Xe mô tô biển số 48FA – 1923 đã được dựng lên trên mặt đường, đầu xe hướng vào thôn Đ, đuôi xe hướng về đường H, trục trước cách mép đường chuẩn 2,55m, cách mốc 16,35m, trục sau nằm trên mép đường phải, cách mép đường chuẩn 3,30m, cách mốc là 17,6m.
- Xe máy kéo không mang biển số đang dừng đỗ ở lề đường phải, đầu xe hướng về đường H, đuôi xe hướng về thôn Đ, trục trước bên phải nằm trên mặt đường, cách mép đường chuẩn 2,85m, cách mốc là 15,4m, trục sau bên phải cách mép đường chuẩn 2,45m, cách mốc 12,3m, cách trục sau xe mô tô biển số 48FA - 1923 là 5,4m.
- Trên mặt đường phát hiện vùng chất dịch màu nâu đỏ đã khô, nghi là máu của ông Trần Quốc T1 có kích thước 60cm x 30cm, tâm vùng chất dịch cách mép đường chuẩn 0,65m, cách trục sau xe mô tô biển số 48FA – 1923 là 5,4m, cách trục sau bên phải xe máy kéo là 1,8m, cách mốc là 12,3m, được ký hiệu là (M) trong sơ đồ hiện trường.
- Trên mặt đường phát hiện vùng chất dịch màu đen, có kích thước 30cm x 20cm, xác định là nhớt từ trục bánh sau, bên phải của xe máy kéo, tâm vùng chất dịch cách mép đường chuẩn 2,35m, cách mốc 12,3m, cách trục sau xe máy kéo 20cm, được ký hiệu là (DVN) trong sơ đồ hiện trường.
- Trên mặt đường phát hiện vùng mãnh vỡ xác định là của xe mô tô biển số 48FA - 1923 có kích thước 40cm x 60cm, tâm vùng mãnh vỡ cách mép đường chuẩn 2,6m, cách mốc là 14,1m, cách trục sau xe mô tô biển số 48FA - 1923 3,6m, cách trục sau xe máy kéo 1,8m, được ký hiệu (VMV) trên sơ đồ hiện trường.
- Căn cứ dấu vết để lại trên hiện trường và dấu vết để lại trên phương tiện xác định điểm va chạm đầu tiên tương ứng trên mặt đường giữa hai phương tiện là tại vị trí cách lề đường chuẩn 2,4m, cách mốc là 13,6m, cách trục sau xe mô tô biển số 48FA - 1923 là 3,8m, cách trục sau bên phải xe máy kéo là 1,6m, được đánh dấu (X) trên sơ đồ hiện trường.
* Kết quả khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông:
- Xe máy kéo không mang biển số:
+ Bánh xe phía trước, bên phải bị xẹp.
+ Mặt ngoài thùng xe ở vị trí bên phải ghế lái có vết chà trượt làm bay lớp bụi bám bên ngoài trong khu vực có kích thước 10cm x 07cm, tâm vết chà trượt cách mép phải thùng 03cm, cách mặt đường 78cm. Trên vết này có bám dính lớp nhũ sơn màu đỏ.
+ Mặt hướng xuống dưới của thanh kim loại ở góc thùng xe bên phải ghế lái có vết chà trượt, mài mòn lộ ánh kim loại trong khu vực có kích thước 12cm x 0,3cm, điểm thấp nhất cách mặt đường 63cm. Trên vết này có bám dính nhũ sơn màu đỏ.
- Xe mô tô biển số 48FA - 1923: Mặt nạ, yếm chắn gió bên phải bị bể vỡ hoàn toàn, rời khỏi vị trí ban đầu. Dè chắn bùn phía trước có 01 vết nứt vỡ tại vị trí tiếp giáp trục trước xe mô tô, kích thước vết nứt vỡ 12cm x 08cm. Mặt trên dè có 01 vết chà trượt, mài mòn theo chiều hướng từ trước ra sau trong khu vực có kích thước 31cm x 14cm. Điểm đầu vết chà trượt, mài mòn cách mũi dè 10cm, cách mặt đường 63cm, điểm cuối cách mũi dè 41cm.
* Tại bản kết luận giám định tử thi số 55/KLGĐTT-TTPY, ngày 24/4/2024 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đ kết luận đối với ông Trần Quốc T1:
- Dấu hiệu chính qua giám định: Vỡ xương hộp sọ vùng trán thái dương đỉnh trái.
- Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Không.
- Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTS, ngày 06/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: xe gắn máy biển số 48FA – 1923, bị thiệt hại 300.000 đồng.
Bản Cáo trạng số: 66/CT-VKS ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil đã truy tố bị cáo Nguyễn Công Hiến về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo a khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Công H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng truy tố.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích tính chất vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Công H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo a khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự và đề nghị HĐXX:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Công H từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 năm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 584, Điều 585, Điều 591 BLDS 2015 chấp nhận trong quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 60.000.000 đồng. Đại diện bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm.
Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã thu giữ sau đó trả lại: 01 xe gắn máy biển số 48FA - 1923 và 01 xe máy kéo không biển số cho các chủ sở hữu hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Công H đã khai nhận toàn bộ hành vi mà các bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc bản cáo trạn Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các lời khai của người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử xác định: Vào khoảng 07 giờ ngày 16/3/2024, tại đường liên thôn thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Công H (không có giấy phép lái xe hạng A4) điều khiển xe máy kéo không biển số đỗ bên trái đường theo hướng lưu thông của mình, thùng xe bên phải lấn ra chiếm một phần mặt đường xe lưu thông nhưng không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết, vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật giao thông đường bộ, dẫn đến khoảng 19 giờ cùng ngày, ông Trần Quốc T1 điều khiển xe gắn máy biển số 48FA - 1923 đi từ đường H (Quốc lộ A) vào đường liên thôn thuộc thôn Đ đã tông vào thùng xe máy kéo không biển số của Nguyễn Công H đang đỗ ở trên đường. Hậu quả, ông Trần Quốc T1 chết do chấn thương sọ não, xe mô tô biển số 48FA - 1923, bị thiệt hại 300.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điều 260 BLHS.
Xét quan điểm buộc tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Nguyễn Công H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;”
[3] Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại tính mạng, tài sản của người khác, gây tâm lý hoang mang cho người dân khi tham gia thông đường bộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thừa biết rằng khi dừng đỗ xe không theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật giao thông đường bộ sẽ gây nguy hiểm cho những người tham gia giao thông giao thông khác. Nhưng với ý thức xem thường pháp luật, xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác, bị cáo điều khiển xe máy kéo không biển số đỗ bên trái đường theo hướng lưu thông của mình, thùng xe bên phải lấn ra chiếm một phần mặt đường xe lưu thông nhưng không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe, không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết, dẫn đến hậu quả ông Trần Quốc T1 điều khiển xe gắn máy tông vào thùng xe máy kéo của Nguyễn Công H và bị tử vong do chấn thương sọ não, xe mô tô biển số 48FA - 1923, bị thiệt hại 300.000 đồng. Do đó cần phải buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi của bị cáo đã gây ra.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt; trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi gây tai nạn, bị cáo đã bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 60.000.000 đồng, đại diện bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Trong sự việc này xét thấy cũng có một phần lỗi bị hại, mặc dù tầm nhìn không bị hạn chế, tuy nhiên bị hại không chú ý quan sát, không phát hiện ra chướng ngại vật khi điều khiển xe lưu thông trên đường. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật của Nhà nước.
Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng; có nhân thân tốt; nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú; hành vi vi phạm đậu đỗ xe không đúng quy định của bị cáo gây thiệt hại cho bị hại là điều nằm ngoài ý muốn của bị cáo; bản thân bị cáo có bệnh động kinh điều trị ngoại trú, là lao động chính trong gia đình; bị cáo đã nhận thức được sai lầm và được gia đình bị hại chia sẻ xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 02/VBHN-TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; bản thân bị cáo có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội. Do đó, không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà cho bị cáo hưởng chế định án treo, dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương, gia đình cũng đủ để giáo dục bị cáo biết nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật. Đồng thời cũng cho bị cáo thấy được sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 60.000.000 đồng, xét thấy việc thỏa thuận bồi thường phù hợp với Điều 584, Điều 585, Điều 591 BLDS 2015 nên cần chấp nhận.
[7] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã thu giữ sau đó trả lại 01 xe gắn máy biển số 48FA - 1923 và 01 xe máy kéo không biển số cho các chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp nên cần chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Công H phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Áp dụng: Điểm a khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Công H 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Công H cho UBND xã Đ, huyện Đ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát và giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 591 BLDS 2015. Chấp nhận bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng).
4. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 BLTTHS; áp dụng Điều 47 BLHS.
Chấp nhận cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã thu giữ sau đó trả lại: 01 xe gắn máy biển số 48FA - 1923 và 01 xe máy kéo không biển số cho các chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp
5.Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Công H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận: -TAND tỉnh Đắk Nông; -Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; -VKS ND huyện ĐắkMil; -Đội điều tra Công an huyện Đắk Mil; -Đội THAHS Công an huyện Đắk Mil; -Bộ phận Nghiệp vụ CA huyện Đắk Mil; -Chi cục THADS huyện Đắk Mil; -Bị cáo; -Những người tham gia tố tụng; -Lưu HS, VP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Thùy Dung |
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công Hiến phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
