Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2024/DS - ST

Ngày: 26/4/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Thủy Tiên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt
  2. ông Trần Văn Hiệu

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Chi – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 4

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên

Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 4, Tp. xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 282/2023/TLST- DS ngày 30 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 291/2024/QÐST – DS ngày 03 tháng 4 năm 2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 292/2024/QĐXX - ST ngày 03 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
  • Trụ sở: 2 N, Phường V, Quận C, Tp.
  • Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Thân Lê N – giấy ủy quyền số 2050/2023/UQ-TGĐ ngày 10/7/2023
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Phương T, sinh năm 1993
  • Địa chỉ: A B, Phường H, Quận D, Tp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/10/2023, bản tự khai và các biên bản làm việc tiếp sau đó, Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S là ông Thân Lê N trình bày:

Ngày 21/8/2019, đương sự T có ký với Ngân hàng TMCP S hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng JCB (số thẻ 356480-1301) với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, đương sự T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 62.100.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay đương sự T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 51.895.000 đồng (thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng nhiều lần nhắc nhở nhưng đương sự vẫn không thiện chí trả hết khoản nợ. Do đương sự vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 18 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên ngày 23/02/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 24 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Tính đến ngày 26/4/2024 đương sự còn nợ các khoản sau: nợ gốc 55.440.337 đồng, lãi quá hạn 57.225.168 đồng. Tổng cộng 112.665.505 đồng. Ngoài ra, đương sự có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 27/4/2024 cho đến khi trả dứt khoản nợ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã ký. Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân đương sự T có trách nhiệm trả khoản nợ, không yêu cầu đưa thêm người vào tham gia tố tụng.

Bị đơn Nguyễn Phương T đã được tống đạt thông báo thụ lý, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đương sự vắng mặt không có lý do, không có văn bản có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi cho Tòa nên Tòa không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

Căn cứ kết quả xác minh của Công an P, Quận D “ Đ/s Nguyễn Phương T, sinh năm 1993, có đăng ký HKTT 129F/123/13A B, Phường H, Quận D nhưng không thực tế cư trú tại địa phương, từ tháng 08/2023 đến nay, đi đâu không rõ địa chỉ”

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn có mặt; phía bị đơn bà Nguyễn Phương Thanh vắng mặt lần thứ hai, không có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Việc Tòa án thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung của vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Phương T trả tiền nợ thẻ tín dụng. Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 21/8/2019 và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, thì có cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bà T đã xác lập quan hệ tín dụng. Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà T trả số tiền nợ thẻ tín dụng gồm nợ gốc và lãi chậm trả đây là vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Đồng thời, căn cứ vào kết quả xác minh của Công an P, Quận D. Theo đơn khởi kiện, thì người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của bị đơn nhưng bị đơn không có nơi cư trú ổn định, thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú...thì Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì Tòa án nhân dân Quận 4 có thẩm quyền giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn có mặt; bị đơn bà T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

Xét, đề nghị của nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân bà T có trách nhiệm trả khoản nợ không yêu cầu đưa thêm người vào tham gia tố tụng là tự nguyện và không trái pháp luật nên chấp nhận.

[2] Về yêu cầu của đương sự:

Đối với số tiền nợ gốc và lãi: Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 21/8/2019 và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng do nguyên đơn cung cấp và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì có đủ cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bà Nguyễn Phương T có quan hệ vay tiền với hình thức mở thẻ tín dụng. Số tiền vay thông qua thẻ với hạn mức là 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, đương sự T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 62.100.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay đương sự T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 51.895.000 đồng. Tuy nhiên, các khoản nợ đến hạn thanh toán nhưng bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 26/4/2024 đương sự còn nợ các khoản sau: nợ gốc 55.440.337 đồng, lãi quá hạn 57.225.168 đồng. Tổng cộng 112.665.505 đồng. Ngân hàng yêu cầu bà T trả một lần toàn bộ khoản nợ ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, bà T còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo quy định tại các hợp đồng đã ký kể từ ngày 27/4/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ. Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà trả toàn bộ số tiền nợ trên và trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Căn cứ vào các Điều 90, 91, 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng, việc Ngân hàng yêu cầu bà T trả số tiền nợ gốc và nợ lãi là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Phương T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.633.275 đồng (năm triệu sáu trăm ba mươi ba nghìn hai trăm bảy mươi lăm đồng)

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203, Điều 220, Điều 227 và khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Căn cứ vào các Điều 90, 91, 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;
  • - Căn cứ Điều 468 Bộ luật dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017;
  • - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S.
  2. Buộc bà Nguyễn Phương T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ tính đến ngày 26/4/2024 đương sự còn nợ các khoản sau: nợ gốc 55.440.337 đồng, lãi quá hạn 57.225.168 đồng. Tổng cộng 112.665.505 đồng. Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 21/8/2019 và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày 27/4/2024 trở đi bà T còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo quy định tại các Hợp đồng đã ký cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ.

  1. Về án phí:

    Nguyễn Phương T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 5.633.275 đồng (năm triệu sáu trăm ba mươi ba nghìn hai trăm bảy mươi lăm đồng)

    Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí mà Ngân hàng đã nộp là 2.246.000 đồng (hai triệu hai trăm bốn mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0042620 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 4.

  2. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. HCM;
  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 4;
  • - Chi cục T;
  • - Lưu VP – HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hồ Thị Thủy Tiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/DS - ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 75/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Trụ sở: 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Tp. HCM Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Thân Lê Nguyên – giấy ủy quyền số 2050/2023/UQ-TGĐ ngày 10/7/2023 - Bị đơn: Bà Nguyễn Phương Thanh, sinh năm 1993 Địa chỉ: 129F/123/13A Bến Vân Đồn, Phường 8, Quận 4, Tp. Hồ Chí Minh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger