Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN TÂN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số:75/2024/HS-ST

Ngày 25-7-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh;

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lương Thị Diệp.

2. Bà Mai Thị Hoài Nam.

- Thư ký phiên tòa: Ông Giang Tiến Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lò Văn T, sinh năm 1986 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản Tạng Đán, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn M (đã chết) và con bà: Lò Thị A, sinh năm 1965; vợ: Lù Thị S, sinh năm: 1992; Con: bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 29/02/2024 đến ngày 09/3/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T đến nay, bị cáo có mặt.

2. Họ và tên: Hà Văn P, sinh năm 1987 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản Bút Trên, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hà Văn Đ, sinh năm 1962 và con bà: La Thị I, sinh năm 1967; vợ: Lù Thị H, sinh năm 1990; Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011; tiền sự: Không.

Tiền án: Bị cáo Hà Văn P có 01 tiền án chưa được xóa án tích. Cụ thể: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/2021/HS-ST ngày 20/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt H1 Văn Phòng 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 30/8/2022 Hà Văn P chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 29/02/2024 đến ngày 09/3/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T đến nay, bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Lù Thị S - sinh năm 1992. Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 29/02/2024, Lò Văn T đang ở đám tang tại bản P, xã T, huyện T thì nảy sinh ý định đi mua Heroin để sử dụng. Lúc này H1 Văn Phòng là anh em đồng hao với T cũng có mặt ở đám tang nên T đã rủ P đi mua Heroin cùng nhau sử dụng, P đồng ý và cùng T góp chung mỗi người 100.000 đồng để cùng nhau đi mua H2 và T là người cầm tiền. Sau đó P điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu sơn đỏ-đen, số máy 490821, số khung 490777, biển kiểm soát 25U1-014.01 của T rồi chở T ngồi phía sau đi lên bản Khau Giường, xã H, huyện T để mua Heroin cùng nhau sử dụng.

Khi đến đầu bản Khau Giường, xã H, T và P gặp một người đàn ông dân tộc Mông không rõ nhân thân lai lịch đang đi bộ ngoài đường. Lúc này T trực tiếp trao đổi hỏi mua Heroin và người đàn ông này đồng ý. Sau đó T đưa cho người đàn ông số tiền 200.000 đồng là tiền mà T và Phòng đã góp trước đó, người đàn ông cầm lấy tiền rồi đưa cho T 04 (bốn) gói Heroin, mỗi gói đều được gói ngoài bằng một mảnh nilon màu hồng rồi đi đâu thì T và Phòng không biết. Sau khi mua được H2, T lấy 01 gói Heroin ra rồi T và P cùng nhau sử dụng hết bằng hình thức hít, còn lại 03 gói Heroin thì T cầm ở tay phải. Sau khi sử dụng Heroin xong, P điều khiển xe mô tô chở T đi về, trên đường đi về T vặt 01 chiếc lá cây màu xanh rồi gói chung 03 gói Heroin lại và tiếp tục cầm ở tay phải với mục đích mang về để T và P tiếp tục cùng nhau sử dụng.

Hồi 12 giờ cùng ngày, khi T và P đi về đến bản P, xã T thì bị tổ công tác Công an xã T đang làm nhiệm vụ tiến hành dừng xe kiểm tra. Quá tình kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện bắt quả và thu giữ trên tay phải của T 03 gói Heroin, mỗi gói đều được gói ngoài bằng một mảnh nilon màu hồng và được gói chung bằng 01 chiếc lá màu xanh có tổng khối lượng 0,19 gam. T và P đều khai nhận đó là H2 do T và P cùng tàng trữ để sử dụng; đồng thời thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu sơn đỏ-đen, số máy 490821, số khung 490777, biển kiểm soát 25U1-014.01, xe cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong.

Ngày 29/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại bản kết luận giám định số 20/KL-TCGĐ ngày 29/02/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Công an huyện T, kết luận: Vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Lò Văn T và Hà Văn P có tổng khối lượng 0,19 gam (không phẩy mười chín gam).

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trích toàn bộ 0,19 gam chất bột, màu trắng thu giữ của Lò Văn T và Hà Văn P theo T và P khai nhận là H2 gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 264/KL-KTHS, ngày 04/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: 03 (ba) mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu Mẫu 01; Mẫu 02; Mẫu 03) gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Bản Cáo trạng số 44/CT -VKS - TU, ngày 14/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử Lò Văn T và Hà Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn T mức án từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo H1 Văn Phòng mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo và buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ Luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy: 03 mảnh nilon màu hồng, 01 chiếc lá màu xanh. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu sơn đỏ-đen, biển kiểm soát 25U1-014.01, số máy 490821, số khung 490777, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong.

Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Lù Thị S trình bày chiếc xe mô tô bị thu giữ là tài sản chung của vợ chồng chị, việc chồng chị là bị cáo T sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội thì chị không biết, chị S có nguyện vọng xin lại chiếc xe mô tô trên để phục vụ việc đi lại của gia đình.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Lò Văn T, Hà Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Hồi 12 giờ, ngày 29/02/2024, tại bản P, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Văn T và Hà Văn P đang cùng nhau tàng trữ trái phép 0,19 gam Heroin với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã T, huyện T phát hiện, bắt quả tang.

Các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tuy nhiên vì muốn có ma túy để sử dụng mà đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Xét thấy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Hà Văn P có 01 tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do vậy phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, riêng bị cáo T là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo T được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo Lò Văn T là người rủ rê khởi xướng, góp tiền và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm với vai trò chính, bị cáo H1 Văn P là người góp tiền và thực hành giúp sức tích cực thực hiện hành vi phạm tội nên các bị cáo đều phải chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi phạm tội của mình theo quy định tại Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn, các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - 0,19 gam Heroin thu giữ của Lò Văn T và Hà Văn P đã gửi giám định toàn bộ không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - 03 mảnh nilon màu hồng, 01 chiếc lá màu xanh là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu sơn đỏ-đen, số máy 490821, số khung 490777, biển kiểm soát 25U1-014.01, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản chung của chị Lù Thị S và bị cáo Lò Văn T, việc bị cáo T dùng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội thì chị S không biết, tuy nhiên chiếc xe mô tô trên là phương tiện bị cáo T dùng vào việc phạm tội nên xét thấy cần tịch thu toàn bộ chiếc xe mô tô trên để hóa giá sung quỹ Nhà nước, không chấp nhận đề nghị xin trả lại xe của chị Lù Thị S.

[6] Về án phí: Các bị cáo Lò Văn T, Hà Văn P bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Các đối tượng hành vi liên quan đến vụ án:

Về nguồn gốc số Heroin bị thu giữ, các bị cáo Lò Văn T, Hà Văn P khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ nhân thân lai lịch tại khu vực bản K, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu. Quá trình điều tra không xác định được người đàn ông này nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu sơn đỏ-đen, số máy 490821, số khung 490777, biển kiểm soát 25U1-014.01 là tài sản chung của bị cáo Lò Văn T và chị Lù Thị S. Việc bị cáo T dùng xe đi mua và tàng trữ Heroin thì chị Lù Thị S không biết. Vì vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện T không đề cập xử lý đối với chị Lù Thị S là đúng quy định của pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn T, Hà Văn P, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lò Văn T, Hà Văn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

  • + Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/02/2024.
  • + Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn P 01 năm 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/02/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư công văn do Công an huyện T phát hành, bên trong đựng 03 mảnh nilon màu hồng, 01 chiếc lá màu xanh. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu sơn đỏ-đen, số máy 490821, số khung 490777, biển kiểm soát 25U1-014.01 (xe không lắp yếm trước và hai cánh yếm hai bên, không lắp gương chiếu hậu) xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 10 giờ 00 phút, ngày 02/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Lò Văn T, H1 Văn Phòng mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Tân Uyên;
  • - Chi Cục THADS huyện Tân Uyên;
  • - Công an huyện Tân Uyên;
  • - Các bị cáo; Người CQLNVLQ;
  • - Lưu HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 75/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lò Văn T và đồng phạm Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 249 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger