|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 75/2024/HS-ST
Ngày 25-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chức và ông Quàng Văn Mầng.
- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Thiều - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Sơn La.
- Người tiến hành tố tụng:
Kiểm sát viên: Ông Lường Văn H.
Thư ký Tòa án: Bà Lê Thu P.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Sơn La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn C, sinh ngày 15/10/1996 tại M, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản P, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Lò Văn D, sinh năm 1976 và
con bà Lò Thị H1, sinh năm 1978; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lò Văn D, sinh năm 1976. Địa chỉ: Bản P, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/01/2024 tại khu vực bản B, xã M, tổ công tác Công an huyện M phối hợp với Công an xã M, huyện M phát hiện bắt quả tang Lò Văn C đang có hành vi cất giấu 02 gói nilon màu hồng bên trong chứa cục bột màu trắng nghi là H2, Lò Văn C khai nhận cất giấu để sử dụng.
Vật chứng thu giữ: 02 gói nilon màu hồng bên trong chứa cục bột màu trắng nghi là Heroine; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng.
Ngày 04/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M và Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tiến hành bóc mở niêm phong và cân tịnh vật chứng thu giữ khi bắt quả tang. Kết quả: khối lượng các cục bột màu trắng trong gói nilon màu hồng thứ nhất là 0,11 gam, trích ra 0,04 gam làm mẫu giám định ký hiệu C1, còn 0,07 gam ký hiệu C1A nhập kho vật chứng; khối lượng các cục bột màu trắng trong gói nilon màu hồng thứ hai là 0,08 gam, trích ra 0,03 gam làm mẫu giám định ký hiệu C2, còn 0,05 gam ký hiệu C2A nhập kho vật chứng. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định số 14. Tại Kết luận giám định số 228 ngày 05/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S đã kết luận: Mẫu gửi giám định C1, C2 là chất ma túy, loại Heroine. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,19 gam loại Heroine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, Lò Văn C khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 04/01/2024 Lò Văn C điều khiển xe mô tô YAMAHA Sirius không có biển kiểm soát (xe của bố đẻ C là Lò Văn D) đi đến bản H, xã M để tìm mua ma túy. Tại bản Hua Bó, Lò Văn C gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ), Lò Văn C đã hỏi và mua được của người này 02 gói ma túy với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Lò Văn C cất vào túi quần rồi điều khiển xe đi về, đi được một đoạn thì bị tổ công tác Công an huyện M và Công an xã M kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
2
Đối với người đàn ông theo lời khai của Lò Văn C đã bán ma túy cho Lò Văn C vào ngày 04/01/2024, Lò Văn C không biết tên, tuổi, địa chỉ, việc mua bán không ai biết hoặc chứng kiến. Ngoài lời khai của Lò Văn C Cơ quan điều tra Công an huyện M không thu thập được tài liệu chứng cứ khác nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius không có biển kiểm soát là tài sản của ông Lò Văn D (bố bị cáo), việc bị cáo Lò Văn C sử dụng xe để đi mua ma túy ông Lò Văn D không biết, xét thấy việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên ngày 11/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã hoàn trả chiếc xe trên cho ông Lò Văn D.
Tại Bản cáo trạng số 41/CT-VKSML ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Lò Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn C đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt Lò Văn C từ 18 đến 22 tháng tù giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyện M được niêm phong dán kín, (đựng 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở, 02 mảnh nilon màu hồng, 01 túi nilon màu trắng ký hiệu C1A = 0,07 gam, 01 túi nilon màu trắng ký hiệu C2A = 0,05 gam).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
3
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn C thừa nhận: Ngày 04/01/2024 Lò Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,19 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện M phát hiện bắt quả tang.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, thông báo kết quả giám định vật chứng của vụ án, lời khai của người chứng kiến.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lò Văn C đã thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình làm là nguy hiểm cho xã hội và bản thân, nhưng do nghiện chất ma túy nên bị cáo đã thực hiện tội phạm. Hành vi cất giấu, cất giữ trái phép 0,19 gam Heroine của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là thuộc trường hợp nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương.
[3] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Toà cần xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo.
[4] Về hình phạt
4
Về hình phạt chính: Tòa cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo nghiện chất ma túy, thu nhập không ổn định, tài sản không có gì giá trị lớn, bị cáo không có khả năng thi hành, Toà cần xem xét không áp dụng đối với bị cáo.
[5] Đối với người đàn ông theo lời khai của Lò Văn C đã bán ma túy cho Lò Văn C vào ngày 04/01/2024, cơ quan chức năng không có cơ sở chứng minh, xử lý.
[6] Về vật chứng của vụ án:
01 phong bì công văn của Công an huyện M được niêm phong dán kín, (đựng 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở, 02 mảnh nilon màu hồng, 01 túi nilon màu trắng ký hiệu C1A = 0,07 gam, 01 túi nilon màu trắng ký hiệu C2A = 0,05 gam). Là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng. Ngày 11/3/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Văn D là đúng quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cần chấp nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: bị cáo Lò Văn C, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn C 19 (Mười chín) tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 04/01/2024).
5
- Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã hoàn trả 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Văn D.
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyện M được niêm phong dán kín, (đựng 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở, 02 mảnh nilon màu hồng, 01 túi nilon màu trắng ký hiệu C1A = 0,07 gam, 01 túi nilon màu trắng ký hiệu C2A = 0,05 gam).
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/4/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 25/4/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Lê Thị Thu Hà |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) |
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
6
7
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 75 ngày 25.4.2024 Lò Văn Ch phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
