|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 75/2023/HS-ST Ngày 24-8-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Chang;
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Kim Niệm;
Bà Nguyễn Thị Nga;
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Đình Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2023/TLST - HS ngày 16 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn K, sinh ngày 30 tháng 7 năm 1970 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước; nơi ở hiện tại: Thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1930 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1936 (đã chết); bị cáo có vợ là Trần Thị Á (đã ly hôn năm 2022); bị cáo có 02 người con; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2022 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại:
- Bà Thạch Thị Bé T, sinh năm 2002; địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (đã chết);
- + Ông Thạch Hữu D, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (là chồng của bị hại). Có mặt.
- + Ông Thạch Sô N, sinh năm 1970 và Thạch Thị D1, sinh năm 1969; cùng địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (là cha, mẹ của bị hại). Có đơn xin vắng mặt.
- Cháu Thạch Thị Hoài T1, sinh ngày 21/7/2020; địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện T,
Người đại diện hợp pháp của bị hại T:
1
tỉnh Đồng Tháp;
Người đại diện hợp pháp của bị hại T1: Ông Thạch Hữu D, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Có mặt.
- Bà Thạch Thị Sô M, sinh năm 2000; địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Thạch T2, sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có đơn xin vắng mặt.
- Ông Lê Đức N1, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện P, tỉnh Bình Phước. Có đơn xin vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện P, tỉnh Bình Phước. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 27/12/2022, bị cáo Nguyễn Văn K điều khiển xe ô tô tải biển số 93C-011.80 chở theo bà Nguyễn Thị P lưu thông trên đường ĐH503 theo hướng từ đường ĐT741 đến xã T, huyện P, tỉnh Bỉnh Dương. Khi đi đến khúc cua trên đường Đ thuộc ấp Đ, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo K buồn ngủ nên bị cáo vừa ngủ vừa điều khiển xe ô tô, không làm chủ được tay lái và không làm chủ được tốc độ, ôm cua đi sang phần đường ngược chiều. Lúc này có xe mô tô biển số 84E1-214.07 do bị hại Thạch Thị Bé T, sinh năm 2002 điều khiển, ngồi phía sau xe là cháu Thạch Thị Hoài T1, sinh năm 2020 (con bị hại T) và bị hại Thạch Thị Sô M, sinh năm 2000 (chị gái bị hại T) đang lưu thông trên đường ĐH503 theo hướng ngược lại với xe của bị cáo K dẫn đến tai nạn, đầu xe ô tô biển số 93C-011.80 do bị cáo K điều khiển đụng trực diện vào đầu xe mô tô biển số 84E1-214.07 do bị hại T điều khiển. Bị cáo K và bà Nguyễn Thị P cùng xuống xe đưa các nạn nhân đi cấp cứu, tuy nhiên khi bị cáo K thấy mọi người gọi điện cho gia đình bị hại đến, bị cáo sợ nên đã đi về nhà và sau đó lên Công an xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước đầu thú, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú ngày 27/12/2022, còn bà P tiếp tục đưa các bị hại đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện P. Tai nạn xảy ra làm bị hại T tử vong tại hiện trường, bị hại T1 tử vong trên đường đi cấp cứu, bị hại M bị thương tích tỷ lệ là 45%.
Sau khi tai nạn xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương khám nghiệm hiện trường ghi nhận hiện trường vụ tai nạn và tạm giữ:
- - 01 xe ô tô biển số 93H-011.80 do ông Lê Đức N1, sinh năm 1997, địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước đứng tên chủ sở hữu.
- - 01 xe mô tô biển số 84E1-214.07 do ông Thạch T2, sinh năm 1979, địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện C, huyện T đứng tên chủ sở hữu.
- - 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Văn K.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1336/GĐPY ngày 29/12/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Bị hại Thạch Thị Bé T: Hai phổi: Dập rách rải rác phổi, rốn phổi, nặng vùng rốn phổi hai bên; Khoang ngực hai bên chứa khoảng 2000ml
2
máu lỏng, 500gr máu đông; Gan: Vỡ mặt trên, dưới thùy phải; Tử cung to, vỡ tử cung, chứa thai nhi nam đã tượng hình đầy đủ đầu, tay, chân, bộ phận sinh dục, tím tái trong bụng mẹ khoảng 7-8 tháng tuổi; Dập các mạc treo, quai ruột rải rác; Ô bụng chứa khoảng 1000ml máu lẫn dịch. Nguyên nhân chết của bị hại Thạch Thị Bé T do đa chấn thương.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1337/GĐPY ngày 29/12/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Bị hại Thạch Thị Hoài T1 bầm tụ máu dưới da và trong cơ vùng tán, thái dương phải; bể lún xương hộp sọ vùng trán, đỉnh thái dương, chẩm phải, có nhiều mảnh xương rời lớn nhỏ; dập não vùng trái, thái dương phải, máu và dịch não tủy chảy ra ngoài theo đường bể lún. Nguyên nhân chất của bị hại T1 do chấn thương sọ não, bể xương hộp sọ, dập não.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 224/2023/KLGĐ-TTPY của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B ngày 07/4/2023 kết luận: Bị hại Thạch Thị Sô M chấn thương sọ não: Xuất huyết dưới hàm dưới vùng lồi cầu trái, đã phẫu thuật kết hợp xương, vết mổ góc hàm trái 2,5 x 0,1 cm, sẹo lành; chấn thương gãy xương chậu-mu, ngồi-mu hai bên, đã can lệch, hẹp eo trên; sây sát da trán, mu bàn tay phải, lành da. Bị hại Thạch Thị Sô M tại thời điểm giám định, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 45% (Bốn mươi lăm phần trăm).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 31/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, kết luận giá trị khắc phục, sửa chữa thiệt hại của xe ô tô biển số 93H-011.80 là 17.700.000 đồng (Mười bảy triệu bảy trăm nghìn đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS ngày 31/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, kết luận giá trị khắc phục, sửa chữa thiệt hại của xe mô tô biển số 84E1-214.07 là 890.000 đồng (Tám trăm chín mươi nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại T, bị hại T1 là ông Thạch Hữu D, ông Thạch Sô N, bà Thạch Thị D1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn K bồi thường thiệt hại về tính mạng và tổn thất tinh thần số tiền 300.000.000 đồng. Bị hại Thạch Thị Sô M yêu cầu bị cáo bồi thường tiền thiệt hại về sức khỏe, chi phí chữa trị thương tích số tiền 50.000.000 đồng. Ông Lê Đức N1 là chủ xe ô tô biển số 93H-011.80 đã thay mặt bị cáo bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho các bị hại. Người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Thạch Hữu D, bà Thạch Thị D1, ông Thạch Sô N và bị hại Thạch Thị Sô M đã nhận đủ tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn K điều khiển xe ô tô biển số 93H-011.80 lưu thông trên đường ĐH503 đi sang phần đường giành cho các phương tiện đi ngược chiều gây ra tai nạn đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: “1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.
Tại Cáo trạng số 55/CT - VKSPG ngày 15/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự).
3
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đồng thời, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị mức xử phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn K từ 04 (B) năm đến 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo K 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Nguyễn Văn K. Về trách nhiệm dân sự, các bị hại đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến.
Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Thạch Hữu D đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chưa giao Thông báo kết luận giám định cho bị hại M, người đại diện hợp pháp của bị hại T là ông N, bà D1 theo Điều 214 Bộ luật Tố tụng hình sự; chưa giao thông báo kết luận điều tra vụ án hình sự cho cho bị hại M, người đại diện hợp pháp của bị hại T là ông N, bà D1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo Điều 232 Bộ luật Tố tụng hình sự; chưa giao Thông báo truy tố bị can ra trước Tòa án cho bị hại M, người đại diện hợp pháp của bị hại T là ông N, bà D1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chưa giao Thông báo về nội dung kết luận định giá tài sản đối với xe ô tô biển số 93H-011.80, kết luận định giá tài sản đối với xe mô tô biển số 84E1-214.07 cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông N1, ông T2 theo Điều 222 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về việc chưa nhận được các văn bản tố tụng trên, đại diện hợp pháp của bị hại ông D không có ý kiến khiếu nại về việc chưa nhận được các văn bản tố tụng trên. Bị hại M, người đại diện hợp pháp của bị hại T là ông N, bà D1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T2, ông N1, bà P có đơn xin xét xử vắng mặt, không có văn bản khiếu nại gì về việc chưa được nhận các văn bản tố tụng trên. Việc vi phạm tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố nhưng không nghiêm trọng nên không cần thiết phải trả hồ sơ điều tra bổ sung. Bị hại M và người đại diện hợp pháp của bị hại T là ông N và bà D1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà P, ông N1, ông T2 có đơn xin vắng mặt, đại diện Viện kiểm
4
sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa không ai đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa, hồ sơ vụ án thể hiện những người vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra đầy đủ, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, do đó căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K đã khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 27/12/2022, bị cáo điều khiển xe ô tô biển số 93H-011.80 lưu thông trên đường ĐH503 theo hướng từ đường ĐT741 đến xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương. Khi bị cáo điều khiển xe đến đoạn đường của ĐH503 thuộc ấp Đ, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo điều khiển xe đi sang phần đường ngược chiều đi của bị cáo, xe của bị cáo va chạm với xe mô tô biển số 84E1-214.07 do bị hại Thạch Thị Bé T điều khiển chở cháu Thạch Thị Hoài T1 và bị hại Thạch Thị Sô M đang đi trên phần đường ngược chiều. Tai nạn xảy ra làm bị hại T và bị hại T1 chết, bị hại M bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 45%. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo tham gia giao thông điều khiển phương tiện giao thông không đảm bảo an toàn, điều khiển xe đi sang phần đường ngược chiều làm xảy ra tai nạn, hành vi của bị cáo vi phạm vào khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đường bộ là nguyên nhân trực tiếp gây ra tai nạn, gây thiệt hại cho tính mạng của bị hại T, bị hại T1 và gây thương thích cho bị hại Mi với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 45% theo Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 224/2023/KLGĐ-TTPY của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B. Bị cáo gây ra tai nạn với lỗi vô ý vì cẩu thả, hậu quả làm chết 02 người, 01 người bị thương. Bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố.
[4] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến an toàn giao thông, trật tự công cộng, gây hoang mang, lo sợ và tạo tâm lý không tốt cho người tham gia giao thông. HĐXX xét thấy cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và mọi người khi tham gia giao thông, đồng thời nêu gương phòng ngừa chung cho xã hội. Khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để quyết định hình phạt phù hợp như sau:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động với gia đình khắc phục, bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại T, bị hại T1 và bị hại M, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
5
[5] Tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên HĐXX xem xét chấp nhận.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Người đại diện hợp pháp của bị hại T, bị hại T1 đã nhận số tiền bồi thường là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), bị hại M đã nhận số tiền bồi thường 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) của ông Lê Đức N1 thay mặt bị cáo bồi thường, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo nên HĐXX ghi nhận.
Ông Lê Đức N1 và bà Nguyễn Thị P đã thay mặt bị cáo bồi thường thiệt hại và hỗ trợ cho gia đình bị hại T, bị hại T1 và bị hại M, ông N1, bà P không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã bồi thường cho các bị hại nên HĐXX ghi nhận.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 31/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tổ tụng hình sự huyện P, kết luận giá trị khắc phục, sữa chữa thiệt hại của xe ô tô biển số 93H-011.80 là 17.700.000 đồng (Mười bảy triệu bảy trăm nghìn đồng). Ông Lê Đức N1 là chủ xe ô tô biển số 93H-011.80 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại để sửa chử\ữa, khắc phục xe ô tô bị hư hỏng nên HĐXX ghi nhận.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS ngày 31/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, kết luận giá trị khắc phục, sửa chữa thiệt hại của xe mô tô biển số 84E1-214.07 là 890.000 đồng (Tám trăm chín mươi nghìn đồng). Ông Thạch T2 là chủ sở hữu xe mô tô biển số 84E1-214.07 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt để sửa chữa, khắc phục xe mô tô bị hư hỏng nên HĐXX ghi nhận.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô biển số 84E1-214.07, số máy HC12E5516941, số khung RLHHC1218DY516796 là tài sản thuộc sở hữu của ông Thạch T2. Ngày 25/01/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra quyết định xử lý vật chứng số 30/QĐ-CSĐT-ĐTTH trả lại xe mô tô biển số 84E1-214.07 cho ông Thạch T2. Ngày 12/4/2023, ông T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại xe mô tô bị hư hỏng nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Đối với xe xe ô tô biển số 93H-011.80, số máy LD530073D4CB, số khung RNHA49KHAMT034975 là tài sản thuộc sở hữu của ông Lê Đức N1. Ngày 25/01/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra quyết định xử lý vật chứng số 30/QĐ-CSĐT-ĐTTH trả lại xe ô tô biển số 93H-011.80 cho ông Lê Đức N1. Ngày 01/02/2023 ông N1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại xe ô tô bị hư hỏng nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Xét thấy không cấm bị cáo hành nghề lái xe nên HĐXX xem xét trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn K 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Nguyễn Văn K do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 24/10/2019 cho bị cáo K.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
6
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106, 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn văn K1 04 (Bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2022.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của người đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm.
- Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn K 01 (một) giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Nguyễn Văn K (do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 24/10/2019). Thể hiện tại biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/5/2023 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.
Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Thị Chang |
7
8
Bản án số 75/2023/HS-ST ngày 24/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 75/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
