|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 75/2024/DS-PT Ngày: 24 – 5 – 2024 V/v "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Ngân
Các Thẩm phán:Bà Lê Thị Thọ
Bà Trịnh Thị Bích Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 20/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2023/DS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số /2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 3 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 06/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần B2.
Địa chỉ: Tòa nhà L, số B T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Nam T – Chức vụ: Quyền Tổng Giám đốc ngân hàng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hữu T1 – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần B2 – chi nhánh H.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Phạm Minh G.
Địa chỉ: số D quốc lộ A, ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Bị đơn:
2
- Bà Nguyễn Thị Bé B
- Ông Nguyễn Hoài N
Cùng địa chỉ: ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Bé B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đinh Đức T2 trình bày:
Ngày 23 tháng 09 năm 2020, bà Nguyễn Thị Bé B và ông Nguyễn Hoài N có vay tiền tại Ngân hàng thương mại cổ phần B2 (Viết tắt là Ngân hàng B2) số tiền gốc là 200.000.000đồng theo hợp đồng tín dụng số HDTD801202000829 ngày 23/9/2020, với mục đích vay bổ sung vốn mua sắm đồ dùng gia đình, thời hạn vay là 60 tháng, lãi suất 10%/năm, lãi suất quá hạn 150%. Biện pháp đảm bảo là tín chấp, ông Nguyễn Hoài N là em trai bà B là người đứng ra cam kết trả nợ cùng bà B.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà B, ông N đã thanh toán được cho Ngân hàng B2 số tiền nợ gốc là 96.666.694đồng. Kể từ sau ngày 30/3/2023 đến nay bà B, ông N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận.
Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Bé B, ông Nguyễn Hoài N phải thanh toán số tiền dư nợ tính đến hết ngày 30/3/2023 là:
- Nợ gốc quá hạn: 103.333.343đồng.
- Lãi trong hạn: 2.288.027đồng.
- Lãi quá hạn: 27.397 đồng.
- Lãi chậm trả lãi là 6.532 đồng.
Tổng cộng là 105.655.299 đồng.
Và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ sau ngày 30/3/2023 theo hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số HDTD801202000829 ngày 23/9/2020 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Nguyên đơn.
Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn bà Nguyễn Thị Bé B trình bày: Ngày 24/9/2020, bà là giáo viên, bà có vay Ngân hàng thương mại cổ phần B2 bằng bảng lương giáo viên số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay là 60 tháng. Mục đích vay mua sắm đồ dùng gia đình, lãi suất trong hạn là 10%/năm. Đã trả được số tiền hơn 90.000.000 đồng. Em bà là Nguyễn Hoài N đứng ra bảo lãnh thì ngân hàng mới cho bà vay. Hiện hoàn cảnh em N khó khăn nên em N đã đi làm ăn xa, khi vay tiền em N không sử dụng số tiền vay từ Ngân hàng. Bà vay tiền để lo cho mẹ bệnh và chữa bệnh cho bà vì khi bà đi làm bị thanh dây chì đâm vào chân, thấy vết thương nhỏ không quan tâm, nào ngờ vết thương nhiễm trùng nặng làm bà phải tháo khớp chân lên tới đầu gối, không thể làm việc nên đã nghỉ
3
dạy học và phải vay tiền bên ngoài để mua chân giả để đi lại, hiện hoàn cảnh gia đình bà rất khó khăn. Nay bà cũng đồng ý trả số nợ gốc 103.333.343 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ Ngân hàng. Bà xin trả mỗi tháng 2.000.000 đồng cho Ngân hàng và hoàn cảnh bà khó khăn xin giảm một phần tiền lãi từ Ngân hàng. Do chân bà chưa đi lại được nên việc đi lại rất khó khăn nên yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
Quá trình tố tụng bị đơn Nguyễn Hoài N vắng mặt tại nơi cư trú: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng cho người nhà nhưng ông N vẫn không về để tham gia tố tụng nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông N.
Tại phiên tòa, nguyên đơn xác định giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà Nguyễn Thị Bé B và ông Nguyễn Hoài N phải thanh toán cho Ngân hàng B2 nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 23/8/2023, tổng cộng là 114.639.003 đồng (trong đó nợ gốc 103.333.306đồng, nợ lãi trong hạn là 10.342.822đồng, lãi quá hạn 735.616đồng, lãi phạt chậm trả lãi là 227.260 đồng) và tiếp tục tính lãi kể từ ngày 24/8/2023 theo hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng với bà Nguyễn Thị Bé B
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2023/DS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tuyên xử như sau:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B2 đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Bé B, ông Nguyễn Hoài N. Buộc bà Nguyễn Thị Bé B, ông Nguyễn Hoài N có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B2 tổng số nợ tạm tính đến ngày 23/8/2023 là 114.639.003 đồng (trong đó nợ gốc 103.333.306đồng, nợ lãi trong hạn là 10.342.822đồng, lãi quá hạn 735.616đồng, lãi phạt chậm trả lãi là 227.260 đồng) và tiếp tục tính lãi kể từ ngày 24/8/2023 theo hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng thế chấp tài sản kiêm khế ước nhận nợ số HDTD801202000829 ngày 23/9/2020 đã ký với Ngân hàng B2 đến khi thanh toán cho dứt nợ.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của đương sự.
Ngày 08 tháng 9 năm 2023, bị đơn bà Nguyễn Thị Bé B có đơn kháng cáo. Nội dung kháng cáo: Không đồng ý trả nợ cho nguyên đơn và yêu cầu xem xét thanh toán tiền tham gia mua bảo hiểm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn bà Nguyễn Thị Bé B vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Nguyên đơn Ngân hàng B2 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:
- Về chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
4
- Về việc giải quyết vụ án: Bị đơn bà Nguyễn Thị Bé B trong quá trình giải quyết cấp sơ thẩm bà thừa nhận có ký hợp đồng vay tín dụng với Ngân hàng B2, đã được giải ngân số tiền vay theo hợp đồng tín dụng số HDTD801202000829 ngày 23/9/2020 nên có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn. Đối với số tiền bảo hiểm là khoản phí phát sinh khi vay kèm theo, do Ngân hàng yêu cầu khách hàng vay bắt buộc thực hiện khi vay và khấu trừ trực tiếp từ khoản tiền giải ngân của khách hàng vay. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn cũng đồng ý trả nợ, nhưng do hoàn cảnh rất khó khăn (bị tai nạn phải phẩu thuật cắt 01 chân) bà yêu cầu Ngân hàng thanh toán bảo hiểm và khấu trừ lại số nợ cho bị đơn là không có căn cứ, chỉ có căn cứ chấp nhận trừ 4.000.000 đồng cho bà là phù hợp. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS 2015, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn. Sửa Bản án sơ thẩm số 43/2023/DS-ST, ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/9/2023, bị đơn bà Nguyễn Thị Bé B có đơn kháng cáo đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được xem là hợp lệ và chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị Bé B yêu cầu được xem xét miễn trả số tiền vay và thanh toán khoản tiền bảo hiểm đã mua cùng với số tiền vay.
Và tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn cũng đồng ý trả nợ, nhưng hoàn cảnh rất khó khăn (bị tai nạn phải phẩu thuật cắt 01 chân) xin ngân hàng thanh toán bảo hiểm và khấu trừ lại số nợ cho bị đơn.
Đối với yêu cầu được miễn trả nợ vay của các bị đơn: Xét thấy, căn cứ vào hợp đồng tín dụng số HDTD801202000829 ngày 23/9/2020 giữa bị đơn Nguyễn Thị Bé B và ông Nguyễn Hoài N là em trai bà Ba c đứng ra cam kết trả nợ. Hợp đồng đảm bảo về hình thức và nội dung, các bị đơn cũng đồng ý trả nợ. Nhưng hoàn cảnh khó khăn xin ngân hàng miễn, giảm, xóa nợ. Tuy nhiên, Ngân hàng không đồng ý. Do vậy, Ngân hàng yêu cầu bà Ba cùng anh N có nghĩa vụ thanh toán vốn và lãi theo quy định là có căn cứ. Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của phía Ngân hàng B2 đồng ý giảm các khoản lãi cho bị đơn, cụ thể như sau:
Đối với yêu cầu kháng cáo về thanh toán bảo hiểm theo khoản vay: Xét thấy, đại diện ủy quyền của ngân hàng trình bày đây là khoản bảo hiểm bắt buộc người vay phải mua kèm theo khi vay thể hiện theo “Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ và yêu cầu bảo hiểm ngày 23/9/2020” do ngân hàng lập thủ tục
5
có chữ ký của bà B và anh N, phí bảo hiểm là 4.000.000 đồng của công ty B3. Yêu cầu của bị đơn về bồi thường bảo hiểm không được Ngân hàng chấp nhận với lý do mặc dù thực tế bà B có bị tai nạn, bệnh tật nhưng không dẫn đến tử vong theo quy định tại khoản 2 mục VI của phiếu yêu cầu mua bảo hiểm nên không được thanh toán.
Xét yêu cầu bồi thường bảo hiểm của bà B thấy rằng, theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự đối với hợp đồng vay là sự thỏa thuận của các bên, theo đó không quy định ràng buộc người vay phải mua phí bảo hiểm.
Đối với phí bảo hiểm do nguyên đơn, bị đơn cung cấp với số tiền 4.000.000 đồng do Ngân hàng lập cùng với giấy đề nghị vay vốn. Chỉ có chữ ký của người vay và người cam kết trả nợ là bà B và ông N. Đây cũng thể hiện là một hợp đồng bảo hiểm như phía Ngân hàng trình bày là giữa Công Ty B3, cũng không có chứng cứ gì chứng minh là một hợp đồng bảo hiểm để làm căn cứ pháp lý phát sinh trách nhiệm bồi thường, nếu có. Thực chất, đây là khoản phí phát sinh khi vay kèm theo, do ngân hàng yêu cầu khách hàng vay bắt buộc thực hiện khi vay và khấu trừ trực tiếp từ khoản tiền giải ngân của khách hàng vay. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của Ngân hàng B2 cũng chưa xuất trình chứng cứ chuyển số tiền 4.000.000 đồng vào tài khoản của Công Ty bảo hiểm. Do vậy, nếu có là giao dịch giữa Ngân hàng với Công ty B3 là một vấn đề khác, nếu có phát sinh.
Từ những phân tích trên, có căn cứ chứng minh số tiền phí tham gia bảo hiểm cho khoản vay 200.000.000 đồng của bà B là 4.000.000 đồng, là do Ngân hàng trích khi giải ngân 200.000.000 đồng của bà B, số tiền còn phí bảo hiểm là 4.000.000 đồng, số tiền bà B thực nhận là 196.000.000 đồng.
Căn cứ theo quy định tại Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022, “Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ và yêu cầu bảo hiểm ngày 23/9/2020” do ngân hàng lập thủ tục không tuân thủ quy định về hình thức của Hợp đồng bảo hiểm. Về nội dung theo quy định tại khoản 2 mục VI của phiếu yêu cầu mua bảo hiểm quy định phạm vi và quyền lợi bảo hiểm “Tai nạn, ốm đau, bệnh tật dẫn đến tử vong đối với người được bảo hiểm....” và tại khoản 7 “Người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm (theo thứ tự ưu tiên)....a) Ngân hàng TMCP B2”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 25 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022định thì trong trường hợp này bên mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm nên bị giao dịch bị vô hiệu theo quy định tại Điều 122 BLDS. Hậu quả của giao dịch dân sự bị vô hiệu được xử lý theo quy định tại Khoản 2 Điều 131 BLDS.
Do giao dịch đối với khoản phí bảo hiểm bị vô hiệu, nên các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà B cho rằng đã đóng tiền bảo hiểm nhiều lần khi vay. Tuy nhiên do thất lạc, nên chỉ cung cấp được chứng từ liên quan đến số tiền bảo hiểm ngày 23/9/2020 là 4.000.000 đồng. Ngân hàng TMCP B2 đã nhận 4.000.000 đồng trích từ khoản tiền giải ngân 200.000.000 đồng của bị đơn, nên có trách nhiệm trả lại cho bị đơn là có căn cứ. Việc bà B
6
cho rằng mỗi lẫn vay đáo hạn bà đều phải mua lại phí bảo hiểm 4.000.000 đồng, nhưng thất lạc giấy tờ. Do vậy, không có căn cứ để xem xét.
[3] Từ những phân tích trên, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn. Do đó, Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm.
[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bà B1 Ba không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Bé B;
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2023/DS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Áp dụng: Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về qui định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B2 đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Bé B, ông Nguyễn Hoài N. Buộc bà Nguyễn Thị Bé B, ông Nguyễn Hoài N có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B2 tổng số nợ tạm tính đến ngày 23/8/2023 là 114.639.003 đồng (trong đó nợ gốc 103.333.306đồng, nợ lãi trong hạn là 10.342.822đồng, lãi quá hạn 735.616 đồng. lãi phạt chậm trả lãi là 227.260 đồng) và tiếp tục tính lãi kể từ ngày 24/8/2023 theo hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng thế chấp tài sản kiêm khế ước nhận nợ số HDTD801202000829 ngày 23/9/2020 đã ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần B2 đến khi thanh toán cho dứt nợ.
2. Buộc Ngân hàng Thương mại cổ phần B2 trả cho bà Nguyễn Thị Bé B số tiền 4.000.000 đồng.
3. Về án phí sơ thẩm:
3.1. Bà Nguyễn Thị Bé B được miễn án phí, ông Nguyễn Hoài N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.865.975 đồng.
3.2. Ngân hàng Thương mại cổ phần B2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002047 ngày 21 tháng 4 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án huyện Châu
7
Thành A, tỉnh Hậu Giang, Ngân hàng Thương mại cổ phần B2 được nhận lại số tiền 2.342.382 đồng.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ngày 24/5/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thanh Ngân |
Bản án số 75/2024/DS-PT ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 75/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa bản án sơ thẩm
